Giáo trình LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

Giáo trình

LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

tháng 02/2009

Chương 1: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

I – SỰ CẦN TIIẾT THÀNH LẬP CƠ QUAN TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA

Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu những lý do cần thiết dẫn đến sự ra đời của Tòa hành chính ở nước ta vào những năm cuối của thế kỷ trước.

Thứ nhất, thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nhà nước có kỷ cương, kỷ luật, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa .

Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, điều hành, cơ quan hành chính Nhà nước và cán bộ, công chức Nhà nước đôi khi có những quyết định hoặc hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức, từ đó làm phát sinh các khiếu kiện hành chính.

Do vậy, cùng với việc tiến hành cải cách một bước thủ tục hành chính cần phải có một cơ chế kiểm soát hữu hiệu hoạt động của cơ quan và nhân viên hành chính Nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành nhằm khắc phục những biểu hiện cửa quyền, lạm quyền, lộng hành hoặc trốn tránh nghĩa vụ, vô trách nhiệm trước nhân dân. Việc thiết lập các cơ quan tài phán hành chính để giải quyết kịp thời các khiếu kiện hành chính nhằm bảo vệ các quyền tự do dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức là yêu cầu cấp thiết.

Thứ hai, từ trước đến nay, Ðảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc giải quyết kịp thời các khiếu nại hành chính của công dân.

Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định. Năm 1991 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân thay thế cho Pháp lệnh năm 1981. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 38/HÐBT và một số văn bản về lĩnh vực này làm cơ sở pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và đã mang lại một số kết quả nhất định. Thực chất đó là những quy định và hoạt động bước đầu mang tính chất tài phán hành chính. Việc giải quyết đúng đắn, kịp thời các khiếu nại của công dân chính là một biện pháp thiết thực nhằm góp phần bảo đảm quyền của công dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước, và đây cũng là sự thể hiện bản chất của Nhà nước ta- Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Tuy vậy, đây mới chỉ là việc giải quyết theo cấp hành chính và do tổ chức Thanh tra giải quyết, cơ quan hành chính vừa là người bị kiện lại vừa là người phán quyết, chưa có một cơ quan xét xử chuyên trách, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên chưa bảo đảm việc giải quyết thật sự khách quan, công bằng và dân chủ .

Những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, khiếu nại của công dân tăng lên đáng kể, nhiều trường hợp trở thành điểm nóng. Trong khi hiệu quả giải quyết khiếu nại còn hạn chế, nhiều đơn thư bị đùn đẩy, dây dưa, tồn đọng lâu ngày;

người khiếu nại bị oan ức kéo dài, cơ quan quản lý các cấp, các ngành mất rất nhiều thời gian mà sự việc vẫn không giải quyết được, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào các cơ quan Ðảng và Nhà nước.

Mặt khác, cũng không ít trường hợp đã lợi dụng quyền khiếu nại gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý, điều hành.

Tình hình đó đặt ra một cách khách quan và bức xúc, đòi hỏi phải có một cơ quan tài phán hành chính độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật để giải quyết các khiếu kiện hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân .

Thực hiện việc xét xử hành chính sẽ làm cho cơ quan Nhà nước giữ được tính dân chủ và pháp chế trong hoạt động của mình. Bằng quá trình tố tụng hành chính và các chế tài cụ thể trong xét xử hành chính, quyền dân chủ của nhân dân được bảo đảm, cơ quan Nhà nước và cán bộ công chức Nhà nước khắc phục được những biểu hiện lộng quyền, lạm quyền, thiếu trách nhiệm trước nhân dân, góp phần ngăn chặn tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, bảo đảm cho các chủ trương của Ðảng, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh. Trên cơ sở đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước.

Thứ ba, việc tổ chức cơ quan tài phán hành chính để xét xử các khiếu kiện về hành chính đã có ở nhiều nước trên thế giới. Tùy theo điều kiện mỗi nước, mô hình tổ chức các cơ quan tài phán hành chính có nhiều cách khác nhau. Trong xu thế đổi mới và hòa nhập, chúng ta có điều kiện tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài để thiết lập cơ quan tài phán hành chính phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của nước ta.

Từ những nhu cầu khách quan nêu trên, ngày 28.10.1995 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án Nhân dân trong đó quy định Tòa Hành chính thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động kể từ ngày 01.7.1996. Trên cơ sở đó, ngày 21.5.1996 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, giao cho Tòa án nhân dân thẩm quyền giải quyết một số khiếu kiện hành chính (Pháp lệnh này đến nay đã qua hai lần sửa đổi, bổ sung, lần thứ nhất vào năm 1998 và lần thứ hai vào năm 2006).

IIII.. CÁC PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC TÒA ÁN HÀNHHCHÍNH

Trên cơ sở khảo sát mô hình tòa án hành chính ở các nước trên thế giới và vận dụng vào thực tiễn của nước ta, tại Tờ trình số 1650 ngày 30/3/1995 Chính phủ đã trình Quốc hội hai phương án tổ chức chủ yếu như sau :

– Tổ chức Tòa án hành chính trong Tòa án nhân dân ;

– Tổ chức Tòa án hành chính thành hệ thống độc lập với các Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp do Thủ tướng lãnh đạo.

1. Phương án 1: tổ chức Tòa án hành chính trong Tòa án nhân dân

Phương án này có hai cách tổ chức :

9

– Tổ chức Tòa án hành chính thành phân tòa trong Tòa án nhân dân (như Tòa Hình sự , Toà Dân sự, Tòa Kinh tế, Toà Lao động);

– Tổ chức Tòa án hành chính thành hệ thống riêng nhưng ở cấp Trung ương thuộc cơ cấu Tòa án nhân dân tối cao.

a) Cách tổ chức thứ nhất : tổ chức Tòa án hành chính thành phân tòa trong Tòa án nhân dân

Tòa án hành chính tổ chức theo cách này thì cần có Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Tổ chức Tòa án hành chính theo cách này có ưu điểm và hạn chế như sau :

* Ưu điểm:

Cách tổ chức này bảo đảm sự thống nhất việc tổ chức các cơ quan xét xử vào một đầu mối, đáp ứng yêu cầu tổ chức bộ máy Nhà nước gọn nhẹ. Mọi hoạt động xét xử hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính đều chịu sự giám đốc của Tòa án nhân dân tối cao.

* Hạn chế:

Hạn chế của phương án này là chưa thật phù hợp với tính đặc thù của việc xét xử các vụ kiện hành chính vốn đã rất phúc tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực của quản lý Nhà nước. Mặt khác, hiện nay Tòa án nhân dân đang phải đảm nhiệm công tác xét xử về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động với khối lượng lớn và cũng rất phức tạp; Tòa kinh tế mới được tổ chức đang trong quá trình xây dựng cần có thời gian để củng cố. Nay giao thêm cho Tòa án nhân dân xét xử với khối lượng lớn các vụ kiện hành chính có thể sẽ bị chậm trễ, khó bảo đảm tính kịp thời của hoạt động quản lý, điều hành diễn ra hàng ngày của các cơ quan hành chính Nhà nước.

b) Cách tổ chức thứ hai: tổ chức Tòa án hành chính thành hệ thống riêng nhưng ở cấp Trung ương thuộc cơ cấu Tòa án nhân dân tối cao

Nếu tổ chức Tòa án hành chính theo cách này thì cần có Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh tổ chức Tòa án hành chính và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính .

Theo cách tổ chức này, Chánh án Tòa án hành chính Trung ương là Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án hành chính Trung ương chịu sự giám đốc của Tòa án nhân nhân tối cao. Các Tòa án hành chính tỉnh, thành phố thuộc Trung ương là các Tòa án độc lập.

Tổ chức Tòa án hành chính theo cách này có ưu điểm và nhược điểm như sau :

* Ưu điểm :

10

Cách tổ chức này vừa bảo đảm tính đặc thù của việc xét xử các vụ kiện hành chính, vừa thu gọn đầu mối cơ quan xét xử ; Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án hành chính .

* Nhược điểm :

Với cách tổ chức này, Tòa án nhân dân tối cao sẽ phải làm nhiệm vụ xét xử một khối lượng lớn các bản án theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.

2. Phương án 2: tổ chức Tòa án hành chính thành hệ thống độc lập với các Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp do Thủ tướng chính phủ lãnh đạo

Phương án này xây dựng trên quan điểm cho rằng hành chính tài phán và hành chính điều hành là hai bộ phận của nền hành chính Nhà nước. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của nền hành chính. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ là người lãnh đạo cả hoạt động hành chính điều hành và hành chính tài phán .

Tổ chức Tòa án hành chính theo phương án này thực chất là sự kế thừa và là bước phát triển cao hơn của công tác giải quyết khiếu nại hành chính mà từ trước tới nay vẫn do các cơ quan hành chính Nhà nước và các tổ chức Thanh tra đảm nhiệm .

Theo phương án này, Thủ tướng Chính phủ không trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng mà chỉ lãnh đạo nhằm bảo đảm cho việc xét xử hành chính kịp thời, có hiệu lực. Tòa án hành chính được tổ chức theo hai cấp : trung ương và tỉnh. Chánh án Tòa án hành chính trung ương do Thủ tướng Chính phủ đề nghị Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm. Chánh án Tòa án hành chính Trung ương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác xét xử hành chính trước Thủ tướng Chính phủ. Tòa án hành chính Trung ương không phải là cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh án Tòa án hành chính Trung ương không phải là thành viên Chính phủ, Tòa án hành chính tỉnh không phải là cơ quan thuộc Uûy ban nhân dân tỉnh .

Nếu tổ chức Tòa án hành chính theo phương án này thì cần ban hành Luật tổ chức Tòa án hành chính, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tổ chức theo phương án này có ưu điểm và hạn chế như sau :

* Ưu điểm :

Ưu điểm của phương án này là bảo đảm sự thống nhất và gắn bó giữa hai bộ phận của nền hành chính. Hoạt động của cơ quan tài phán hành chính sẽ tạo ra cơ chế kiểm soát thường xuyên hoạt động của các cơ quan quản lý; đồng thời trực tiếp giúp Thủ tướng có biện pháp kịp thời chấn chỉnh các hoạt động quản lý điều hành.

* Hạn chế :

Tuy nhiên, theo phương án này dễ gây tâm lý e ngại về tính khách quan của xét xử hành chính. Mặt khác, còn có sự nhận thức khác nhau về cơ sở pháp lý của phương án này. Theo tinh thần Ðiều 134 Hiến pháp năm 1992 thì việc có trao cho

11

Thủ tướng hay không quyền lãnh đạo Tòa án hành chính là thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Trên cơ sở phân tích các ưu điểm cũng như hạn chế của từng phương án nêu trên và căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội ở nước ta, Quốc hội khóa IX trong kỳ họp thứ 8 ngày 28.10.1995 đã chọn phương án 1 cách 1, tức là ở Trung ương và cấp tỉnh thành lập Tòa hành chính là một phân tòa trong cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân, còn ở cấp huyện có Thẩm phán chuyên trách giải quyết các khiếu kiện hành chính.

Tổ chức Tòa án hành chính theo phương án này cũng tồn tại những hạn chế như đã phân tích ở phần trước. Ðể khắc phục những hạn chế này, pháp luật nội dung về hành chính cần phải được quy định cụ thể, rõ ràng, tránh hiện tượng các văn bản pháp luật điều chỉnh cùng một lĩnh vực lại mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau; mặt khác Thẩm phán hành chính và Hội thẩm nhân dân không chỉ được trang bị kiến thức pháp luật về hành chính (Luật nội dung và Luật hình thức ) mà còn phải được trang bị những kiến thức pháp luật khác có liên quan; đồng thời trong quá trình tiến hành tố tụng hành chính, những người tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật với tinh thần trách nhiệm cao.

II — KHÁIINIỆM TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH

1. Các quan niệm về tài phán hành chính

Tùy vào bản chất và đặc tính của tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước trong các chế độ chính trị khác nhau mà mỗi nước có quan niệm khác nhau về tài phán nói chung và tài phán hành chính nói riêng. Tuy nhiên, có thể nêu lên hai quan niệm cơ bản như sau :

a) Quan niệm thứ nhất

Quan niệm thứ nhất cho rằng tài phán hành chính là hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa công quyền với công dân và tư vấn pháp luật cho Chính phủ . Các hoạt động này do các cơ quan độc lập trong nền hành chính quốc gia thực hiện.

Với quan niệm như vậy, việc thiết lập các cơ quan tài phán hành chính là có tính cách độc lập với thẩm quyền tương ứng là xét xử các văn bản quản lý hành chính Nhà nước và các hành vi hành chính của cơ quan hoặc viên chức Nhà nước bị công dân khởi kiện theo một trình tự tố tụng hành chính độc lập (ngoài tố tụng tư pháp). Ngoài ra, hoạt động của cơ quan này còn có tác dụng chỉ rõ chổ đúng sai trong hoạt động hành pháp của Chính phủ (hoạt động tư vấn).

Việc thừa nhận quan niệm như trên dẫn đến sự tồn tại hai loại cơ quan tài phán độc lập với nhau là tài phán tư pháp và tài phán hành chính (lưỡng hệ tài phán), và cũng tùy thuộc vào thực tiễn của mỗi quốc gia, các nước theo quan niệm này lại được chia làm hai dạng :

12

– Thứ nhất, một số nước lập ra Tòa án hành chính nhưng ở cấp tối cao có thêm chức năng tư vấn pháp lý, đó là Tham chính viện (hoặc Hội đồng Nhà nước) như ở Pháp, Hy Lạp, Bỉ, Thái Lan.

– Thứ hai, một số nước có cơ quan tài phán hành chính hoàn chỉnh chỉ thực hiện chức năng xét xử hành chính. Ðó là các nước như : Cộng hòa liên bang Ðức, Thụy Ðiển, Bồ Ðào Nha, Áo .

b) Quan niệm thứ hai

Quan niệm thứ hai cho rằng tài phán hành chính là xét xử các vụ án hành chính, được coi là một hoạt động cụ thể do các Tòa án tư pháp thực hiện, nhằm đảm bảo chức năng xét xử chung của cùng một loại cơ quan tài phán (nhất hệ tài phán). Tổ chức tài phán của các nước theo quan niệm này được chia thành hai dạng:

– Thứ nhất, các nước mà Tòa án tư pháp có chức năng xét xử các khiếu kiện hành chính, điển hình là Anh, Ðan Mạch, Na Uy, Canada, Irăc, Ailen, Aixơlen, v.v. …

– Thứ hai, một số nước có giải pháp hỗn hợp, lập ra các phân tòa hành chính trong Tòa án tư pháp (Tòa án thường) như Trung Quốc, Inđônêxia, Bênanh, Mađagatxca, v.v. . . .

Tuy có sự khác nhau trong quan niệm về tổ chức và hoạt động tài phán hành chính nhưng có thể rút ra một kết luận chung như sau :

Tài phán hành chính là hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa công quyền với công dân và tổ chức, do các cơ quan tài phán (Tòa án, Tham chính viện) của Nhà nước thực hiện theo một trình tự tố tụng nhất định được pháp luật quy định.

2 – Tài phán hành chính ở Việt Nam

a) Những hoạt động có tính chất tài phán hành chính trước đây ở nước ta

a1) Những hoạt động mang tính chất tài phán hành chính trong xã hội phong kiến

Dưới thời phong kiến, cách quản lý của Nhà nước quân chủ quan liêu và sự tha hóa, lạm quyền của một số quan lại các cấp không tránh khỏi làm cho nhân dân bị oan ức, phải đi khiếu kiện. Vì vậy, Nhà nước đã đề ra các giải pháp để dân được kêu oan.

Tuy nhiên, sử cũ ghi chép về vấn đề này quá ít. Bởi vậy, những điều trình bày về việc giải quyết đơn từ khiếu tố của dân dưới chế độ phong kiến chỉ là những nhận xét sơ bộ qua một số dữ kiện mà sử cũ đã ghi lại.

Ở nước ta, trong các thời kỳ xây dựng và củng cố Nhà nước phong kiến độc lập như Lý, Trần, Lê tuy chưa có cơ quan tài phán hành chính chuyên trách nhưng đã có những hoạt động quản lý mang tính tài phán hành chính.

13

Sử cũ chép lại: Ðời nhà Lý (1029) vua Lý Thái Tôn đã đặt hai bên tả hữu thềm rồng (tức Long trì) hai lầu chuông đối diện nhau để nhân dân ai có việc kiện tụng (ở đây được hiểu là dân kiện quan, những kiện tụng về hành chính) hoặc oan uổng thì đánh khuông lên để nhà vua hoặc quan lại triều đình phán quyết về những hành vi của quan lại cấp dưới.

Năm 1747, chúa Trịnh Doanh cũng đặt chuông mõ ở cửa Phủ đường để nhân tài tự tiến cử và người bị ức hiếp đến khiếu nại. Chính Chúa phán quyết hành động của các quan lại cấp dưới .

Nhà nước phong kiến Lý , Trần, Lê cũng đã đặt ra ngự sử đài và các chức quan tả, hữu gián nghị đại phu có chức năng can gián vua , đàn hặc các quan, tâu bẩm, trình vua những điều dân khiếu nại. Trên cơ sở những điều dân khiếu nại, các quan ngự sử tự mình hoặc giúp nhà vua phán quyết. Những hoạt động đó mang dáng dấp của tài phán hành chính .

Như vậy, có thể thấy rằng trong thời kỳ nhà nước phong kiến việc xét xử của quan lại cấp trên đối với quan lại cấp dưới hoặc của nhà vua là việc xét xử theo cấp hành chính. Nhưng những biện pháp nhằm hạn chế các hành vi ức hiếp dân, tham nhũng, sách nhiễu dân hoặc không thực hiện đúng chiếu chỉ của nhà vua v.v. . .đã có những yếu tố của tài phán hành chính.

a2) Các hoạt động mang tính chất tài phán hành chính từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ra đời (02/9/1945) đến trước khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính có hiệu lực (01/7/1996)

Từ khi Nhà nước kiểu mới ra đời (02/9/1945) đến nay, Ðảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng và bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, coi đó là một trong những quyền cơ bản của công dân. Quyền khiếu nại, tố cáo được ghi nhận trong các Hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp1959, Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992.

Tôn trọng và đảm bảo quyền cơ bản này của công dân phải thông qua hoạt động tài phán hành chính do chính quyền các cấp, thủ trưởng các ngành và các cơ quan thanh tra đảm nhiệm

Từ Ban Thanh tra đặc biệt đầu tiên được thành lập bởi Sắc lệnh số 64-SL của Hồ Chủ Tịch ngày 23/11/1945, đến các tổ chức thanh tra sau này như Ban Thanh tra Chính phủ (thành lập theo Sắc lệnh 138B-SL ngày 18/12/1949), Uûy ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ (theo Sắc lệnh số 261-SL ngày 28/3/1956), Uûy ban Thanh tra của Chính phủ (theo Nghị định số 1-CP của Hội Ðồng Chính phủ ngày 03/01/1977), Uỷ ban Thanh tra Nhà nước (theo Nghị quyết số 26-HÐBT của Hội Ðồng Bộ trưởng ngày 15/02/1984) và đến Thanh tra Nhà nước (theo Pháp lệnh Thanh tra ngày 01/4/1990) trước sau đều có nhiệm vụ tiếp nhận, xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.

Ðối với các cấp hành chính, các cơ quan hành chính Nhà nước, Ðảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, thông tư quy định rõ trách nhiệm của thủ trưởng và ban lãnh đạo chính quyền các cấp , các cơ quan và các tổ chức của Ðảng

14

phải làm tốt công tác giải quyết các khiếu nại, tố cáo. Ðó chính là các hoạt động nhằm tăng cường hoạt động tài phán hành chính, bảo đảm và tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân.

Ðiển hình về lĩnh vực này, Nhà nước đã ban hành hai pháp lệnh : Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 27/11/1981 và Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 07/5/1991 làm cơ sở pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết , đem lại những kết quả đáng kể. Xét trên góc độ giải quyết các khiếu kiện hành chính thì đó là những hoạt động bước đầu mang tính chất tài phán hành chính .

Tuy nhiên, theo tinh thần của hai pháp lệnh nói trên thì thẩm quyền giải quyết các khiếu nại, tố cáo vẫn thuộc các cơ quan hành chính nhà nước. Như vậy, các cơ quan hành chính nhà nước mặc nhiên vừa là người bị kiện , lại vừa là người xử kiện, người phán quyết chứ chưa có một cơ quan xét xử chuyên trách và độc lập như một tòa án chuyên thực hiện chức năng tài phán hành chính. Chính vì thế, việc giải quyết khiếu nại chưa được nhanh chóng, khách quan, công bằng và dân chủ.

b) Tài phán hành chính ở nước ta hiện nay

Tài phán hành chính ở nước ta là vấn đề còn mới. Việc thiết lập các Tòa hành chính (cơ quan tài phán hành chính) thuộc hệ thống Tòa án nhân dân để thực hiện hoạt động xét xử các vụ án hành chính là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố, tăng cường và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, đặc biệt là đối với việc đảm bảo tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tài phán hành chính nước ta vừa có những đặc điểm của tài phán hành chính nói chung vừa phản ánh những nét đặc thù phù hợp với bản chất và đặc tính của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Có thể khái quát những đặc điểm đó như sau:

– Tài phán hành chính là tổ chức và hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính phát sinh khi có đơn khởi kiện vụ án hành chính giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với công quyền.

Trong quá trình quản lý hành chính Nhà nước, các chủ thể quản lý hành chính thường xuyên thực hiện các hành vi quản lý như ban hành văn bản quản lý hành chính (văn bản pháp quy và văn bản cá biệt) và thực hiện các hành vi hành chính khác. Khi thực hiện hành vi này các cơ quan Nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền đôi khi do sơ suất, do không tuân theo pháp luật hoặc vì những lý do khác có thể xâm hại đến quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức, do đó bị các chủ thể này phản ứng bằng cách khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ hoặc phục hồi quyền, lợi ích của mình. Trong trường hợp như vậy, rõ ràng Tòa án có thẩm quyền có trách nhiệm thụ lý và giải quyết.

15

– Ðối tượng của tài phán hành chính ở nước ta là các quyết định hành chính và hành vi hành chính bị cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức khởi kiện sau khi đã được giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng không thỏa mãn nhu cầu của họ, hoặc đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo mà không được giải quyết.

– Bên bị kiện trong vụ án hành chính luôn là cơ quan Nhà nước hoặc cán bộ, công chức Nhà nước. Ðây là điểm đặc thù của tố tụng hành chính xét về mặt chủ thể tham gia quan hệ tố tụng so với các loại tố tụng khác như tố tụng hình sự, dân sự, v.v. . .

– Cơ quan tài phán hành chính ở nước ta hiện tại là Tòa hành chính thuộc hệ thống Tòa án nhân dân. Theo quy định của pháp luật (Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân) thì chỉ có Tòa án nhân dân (Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự) là cơ quan xét xử của Nhà nước. Do vậy, việc thiếp lập các Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân hoàn toàn phù hợp với pháp luật.

– Hoạt động tài phán hành chính phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hành chính quy định chớ không phải theo thủ tục hành chính.

Qua các đặc điểm trên có thể rút ra định nghĩa về tài phán hành chính Việt Nam như sau:

Tài phán hành chính Việt Nam là hoạt động xét xử các vụ án hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính và chủ yếu do các Tòa hành chính, các Thẩm phán hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân thực hiện nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước./.

Câu hỏi:

1) Hãy cho biết các lý do cơ bản dẫn đến sự ra đời cơ quan tài phán hành chính chuyên trách ở nước ta?

2) Tài phán hành chính là gì?

Tài liệu tham khảo:

1) Ðinh Văn Minh – Tài phán hành chính so sánh – NXB. Chính trị Quốc gia – 1995;

2) Nguyễn Thanh Bình – Tìm hiểu pháp luật tố tụng hành chính – NXB. Tp. Hồ Chí Minh năm 1997;

3) Phạm Hồng Thái & Ðinh Văn Mậu – Tài phán hành chính ở Việt Nam – NXB. Tp. Hồ Chí Minh – năm 1996.

16

Chương 2: KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

I- KKHHÁÁII NNIIỆỆMM TTỐỐ TTỤỤNNGG HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH VVÀÀ LLUUẬẬTT TTỐỐ TTỤỤNNGG HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH VVIIỆỆTT NNAAMM

1. Khái niệm tố tụng hành chính

Tòa hành chính nước ta đã được thiết lập và đi vào hoạt động kể từ ngày 01/7/1996. Ðể việc giải quyết các khiếu kiện của dân được kịp thời, đúng pháp luật thì các Tòa hành chính phải tiến hành giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Mặt khác, sau khi đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc thi hành bản án, quyết định cũng phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tất cả những trình tự, thủ tục này gọi chung là tố tụng hành chính.

Khi có quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính, nếu cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức thấy rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình và chúng thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính sau khi đã trải qua giai đoạn tiền tố tụng hành chính.

Việc khởi kiện phải được làm thành văn bản (gọi là đơn kiện), trong đó phải ghi rõ ràng ngày, tháng, năm, họ và tên, địa chỉ của người khởi kiện; tên, địa chỉ cơ quan hoặc cán bộ, công chức bị kiện; nội dung và lý do khởi kiện; yêu cầu của người khởi kiện.

Sau khi nhận được đơn kiện, Tòa án xem xét đơn kiện xem có thuộc thẩm quyền giải quyết của mìmh hay không, sau đó tiến hành các giai đoạn tiếp theo.

Như vậy, tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan Nhà nước và tổ chức trong việc giải quyết vụ án hành chính, cũng như trình tự do pháp luật quy định đối với việc khởi kiện, thụ lý, giải quyết vụ án hành chính và thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính.

2 – Khái niệm Luật tố tụng hành chính

a) Khái niệm vụ án hành chính

Ở nước ta, các quyền cơ bản của công dân được pháp luật quy định một cách đầy đủ và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp có hiệu quả. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong chương “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” (chương V) đã ghi nhận khá đầy đủ các quyền cơ bản của công dân Việt Nam như: các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa và các quyền tự do cá nhân khác. Trong đó tại Ðiều 74 Hiến pháp 1992 quy định là công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về

17

những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

Hiến pháp và các ngành luật nội dung đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Ðảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức khi họ tham gia vào các quan hệ pháp luật. Ðể cho các quyền này được thực hiện trong thực tế thì cần phải có các ngành luật hình thức như tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động quy định cách thức, trình tự, để giải quyết các tranh chấp trong thực tế xảy ra. Một trong các cách thức, trình tự đó là: cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Ðiều 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính); đồng thời tại Ðiều 18 của cùng Pháp lệnh có quy định: đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần, nếu không có ai khởi kiện, thì Vện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hành chính và có trách nhiệm cung cấp chứng cứ.

Như vậy, cùng với quyền khiếu nại, tố cáo, quyền khởi kiện vụ án hành chính là một phương tiện quan trọng để cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình , chống lại những vi phạm pháp luật. Mặc dù, cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính nhưng việc khởi kiện phải tuân theo các quy định của pháp luật, và do đó vụ án hành chính chỉ phát sinh khi Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của cá nhân, cơ quan Nhà nước hay tổ chức.

Vậy, vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa hành chính có thẩm quyền do có cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức khởi kiện ra trước Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

b) Khái niệm Luật tố tụng hành chính

b1) Ðịnh nghĩa Luật tố tụng hành chính

Luật tố tụng hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước ta, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng hành chính phát sinh giữa Tòa án với những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức.

Luật tố tụng hành chính quy định các hành vi tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát, bên khởi kiện, bên bị kiện và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án, trên cơ sở đó Tòa án có thể tiến hành việc giải quyết vụ án được đúng đắn. Ðể đạt được điều đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong công tác xét xử không những phải nắm vững pháp luật nội dung mà còn phải nắm vững pháp luật tố tụng hành chính.

18

b2) Ðối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính Việt Nam

Khoa học pháp lý xác định rằng sự khác nhau của những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh là tiêu chuẩn cơ bản để phân định các ngành luật. Mỗi ngành luật chỉ điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội. Nhóm quan hệ xã hội đó được gọi là đối tượng điều chỉnh của ngành luật, cách thức để ngành luật đó tác động vào nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó gọi là phương pháp điều chỉnh. Ðây là hai yếu tố để khẳng định một ngành luật có độc lập hay không, và là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Ðối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính:

Trong lĩnh vực tố tụng hành chính, khi Tòa án giải quyết các vụ án hành chính thì phát sinh các quan hệ giữa Tòa án với Viện kiểm sát, các đương sự và với những người tham gia tố tụng khác. Các quan hệ này xuất hiện từ khi có cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức (tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân) gọi chung là người khởi kiện nộp đơn kiện đến Tòa án có thẩm quyền và được Tòa án thụ lý giải quyết, và quan hệ này tồn tại cho đến khi việc giải quyết vụ án kết thúc. Ở mỗi giai đoạn tố tụng, quyền và nghĩa vụ của Tòa án và của các chủ thể khác được Luật tố tụng hành chính xác định. Ðiều này có nghĩa là bằng các quy phạm pháp luật, Luật tố tụng hành chính đã tác động đến các hành vi tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng, buộc các chủ thể này phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhất định.

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính là các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án nhân dân với Viện kiểm sát nhân dân, các cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án hành chính để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức này.

Phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính

Mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh khác nhau, đó là cách thức tác động lên các quan hệ xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó trong khuôn khổ của pháp luật, bảo đảm cho các chủ thể trong quan hệ đó thực hiện được các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định, ví dụ như:

– Luật hành chính điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh;

– Luật dân sự điều chỉnh bằng phương pháp bình đẳng;

– Luật hình sự điều chỉnh bằng phương pháp quyền uy.

Trong luật tố tụng hành chính có hai phương pháp điều chỉnh:

(1) Thứ nhất, phương pháp quyền uy, phụ thuộc thể hiện trong mối quan hệ giữa Tòa án với các chủ thể khác;

19

(2) Thứ hai, phương pháp bình đẳng thể hiện trong mối quan hệ giữa các đương sự trong cùng một vụ án. Các đương sự hoàn toàn bình đẳng khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, mà Tòa án nhân dân là chủ thể bảo đảm thực hiện sự bình đẳng đó.

c) Ðặc điểm của Luật tố tụng hành chính

Luật tố tụng hành chính Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau đây:

– Một là, Luật tố tụng hành chính Việt Nam quy định quá trình tài phán hành chính phải trải qua hai giai đoạn là: giai đoạn tiền tố tụng và giai đoạn tố tụng. Ðây là điểm đặc thù của Luật tố tụng hành chính mà các ngành Luật hình thức khác không có .

Giai đoạn tiền tố tụng: đây là giai đoạn bắt buộc phải trải qua để có thể thực hiện được giai đoạn tố tụng. Giai đoạn này được các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo nói riêng và pháp luật hành chính nói chung và theo thủ tục hành chính, chớ không phải do Tòa án thực hiện bằng thủ tục tố tụng. Ðiều này được quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Giai đoạn tố tụng: là giai đoạn tài phán do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

– Hai là, tố tụng hành chính Việt Nam là tố tụng viết, nghĩa là các chứng cứ mà các bên nêu ra trong tố tụng hành chính phải được thể hiện bằng hình thức văn bản; các chứng cứ này được trao đổi công khai, tức là các đương sự có quyền được đọc, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp.

Quan hệ giữa các đương sự (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trong vụ án hành chính là quan hệ bình đẳng theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

3. Nhiệm vụ và mục đích của Luật tố tụng hành chính Việt Nam

Cũng như bất kỳ một ngành luật nào khác, Luật tố tụng hành chính có những nhiệm vụ, mục đích cụ thể của mình.

a) Nhiệm vụ của Luật tố tụng hành chính

Các nhiệm vụ của Luật tố tụng hành chính Việt Nam bao gồm :

– Quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các vụ án hành chính;

– Quy định thành phần những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong từng giai đoạn của tố tụng hành chính; thành phần hội đồng xét xử ở Tòa án mỗi cấp;

– Quy định trình tự, thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính;

20

– Quy định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính;

– Quy định trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính;

– Quy định trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án đối với các vụ án hành chính.

b) Mục đích của Luật tố tụng hành chính

Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, luật tố tụng hành chính Việt Nam nhằm hướng tới các mục đích sau đây:

– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức thông qua việc thực hiện chức năng của mình;

– Bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án hành chính được đúng đắn, kịp thời;

– Bảo đảm cho việc thi hành các bản án, các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về vụ án hành chính được nghiêm chỉnh, có hiệu lực và hiệu quả.

II– CCÁÁCC NNGGUUYYÊÊNN TTẮẮCC CCỦỦAA LLUUẬẬTT TTỐỐ TTỤỤNNGG HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH VVIIỆỆTT NNAAMM

1. Khái niệm các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam

a) Khái niệm

Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo toàn bộ các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật cũng như hệ thống các ngành luật cụ thể.

Luật tố tụng hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật nước ta, bởi vậy nó cũng có những nguyên tắc xuyên suốt trong tất cả các chế định pháp luật của nó.

Các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ hệ thống các chế định tố tụng và biểu thị những nội dung đặc trưng nhất của ngành luật này.

Xét về mặt nội dung, các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam biểu hiện những quan điểm pháp lý của Ðảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ và phương pháp hoạt động của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các vụ án hành chính, các nguyên tắc này xuyên suốt trong cả quá trình tố tụng. Bất cứ một hành vi tố tụng nào trái với các nguyên tắc đều bị coi là không hợp pháp và không có giá trị về mặt pháp lý.

b) Ý nghĩa của các nguyên tắc

21

Việc thực hiện các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính mang tính chất bắt buộc chung đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan và tổ chức. Việc tuân thủ triệt để các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính trước hết tạo điều kiện cho cơ quan xét xử tiến hành tố tụng một cách thuận lợi và nhanh chóng; đồng thời nó còn bảo đảm cho đương sự có điều kiện để thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, trên cơ sở đó mà các lợi ích hợp pháp của bản thân đương sự được tôn trọng.

Ngoài ra, việc quán triệt các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính trong tất cả các giai đoạn tố tụng có tác dụng ngăn chặn mọi hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.

c) Phân loại các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam

Việc phân loại các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính thành từng nhóm chỉ có tính chất tương đối. Bởi vì, các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính đều có vai trò chỉ đạo toàn bộ hệ thống các chế định của Luật tố tụng hành chính và đều liên hệ mật thiết với nhau.

Căn cứ vào nội dung và ý nghĩa của các nguyên tắc, có thể chia chúng thành hai nhóm như sau :

Nhóm thứ nhất: nhóm nguyên tắc chung:

Trong nhóm nguyên tắc này có hai loại nguyên tắc thể hiện tính chất khác nhau, đó là:

– Những nguyên tắc thể hiện tính chất dân chủ xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hành chính ;

– Những nguyên tắc thể hiện tính chất pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hành chính.

Nhóm thứ hai: nhóm nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng biệt của tố tụng hành chính.

2. Nội dung các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam

a) Nhóm nguyên tắc chung

a1) Những nguyên tắc thể hiện tính chất dân chủ xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc Tòa án bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

Theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì Tòa án phải bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tòa án bằng hoạt động của mình nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; bên cạnh đó, đương sự tự mình hoặc có thể nhờ luật sư hay người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

22

Nguyên tắc này một mặt bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án luôn được khách quan, đúng pháp luật.

Nguyên tắc tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng hành chính:

Tiếng nói, chữ viết dùng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là tiếng Việt. Tuy nhiên, nếu người tham gia tố tụng không rành tiếng Việt thì có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình (Ðiều 7 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính).

Trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt thì Tòa án có trách nhiệm cử người phiên dịch (Ðiều 26 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính).

Nguyên tắc này nói lên quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bảo đảm cho các đương sự thuộc các dân tộc có điều kiện diễn đạt rõ ràng các yêu cầu, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ bằng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Trên cơ sở đó, họ thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân:

Hội thẩm nhân dân là những người do cơ quan quyền lực Nhà nước bầu hoặc cử ra. Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án là một biểu hiện của sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan Nhà nước.

Nguyên tắc này được quy định trong Hiến pháp, trong Luật tổ chức TAND và được cụ thể hóa tại Ðiều 15 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính như sau: Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân.

Theo quy định của pháp luật thì khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, đây là điều kiện quan trọng để Hội thẩm nhân dân phát huy vai trò là người đại diện cho nhân dân tham gia công tác xét xử của Tòa án, đồng thời bảo đảm cho tiếng nói của người dân có tính chất quyết định trong công việc xét xử của Tòa án.

Ðể thực hiện tốt nguyên tắc này, Hội thẩm nhân dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm, nâng cao kiến thức pháp luật, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính và các quy định pháp luật liên quan.

Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai:

Các vụ án hành chính được xét xử công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ (Ðiều 7 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính). Song dù Tòa án xét xử kín, nhưng Tòa án vẫn phải tuyên án công khai.

Tòa án xét xử công khai nên mọi người đều có quyền đến dự phiên tòa. Ðó là điều kiện để người dân tìm hiểu pháp luật, nắm vững pháp luật, góp phần đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật.

23

Nguyên tắc này bảo đảm cho người dân giám sát được hoạt động xét xử của Tòa án; đồng thời tạo điều kiện cho Tòa án có thể thông qua hoạt động xét xử thực hiện việc truyên truyền, giáo dục pháp luật.

Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số:

Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Yêu cầu của nguyên tắc này là việc xét xử các vụ án ở các cấp xét xử phải được tiến hành theo chế độ hội đồng xét xử, chớ không do một cá nhân thực hiện, bảo đảm việc xét xử được thận trọng, khách quan và chính xác.

Với nguyên tắc này, nếu thành phần Hội đồng xét xử không đúng theo quy định của pháp luật là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng, và đó là căn cứ để Tòa án cấp trên hủy bản án hoặc quyết định của Hội đồng xét xử.

Theo Ðiều 15 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì Hội đồng xét xử vụ án hành chính ở từng cấp xét xử được quy định như sau :

– Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm.

– Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.

– Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao gồm ba Thẩm phán.

– Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm phải có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên tham gia.

Hội đồng xét xử quyết định theo đa số, riêng quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

a2) Những nguyên tắc thể hiện tính chất pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hành chính

Những nguyên tắc thể hiện tính chất pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hành chính, bao gồm :

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Luật tố tụng hành chính Việt Nam:

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc chỉ đạo, bao trùm nhất được thể hiện trong tất cả các hoạt động tố tụng nói chung cũng như trong tố tụng hành chính nói riêng. Nguyên tắc này được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hành chính, từ những quy định chung cho đến những quy định cụ thể. Ðây là nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và công dân được quy định tại Ðiều 12 Hiến pháp 1992. Trong tố tụng hành chính, nguyên tắc này bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án hành chính đúng pháp luật và đươc biểu hiện cụ thể như sau:

24

– Cơ quan tiến hành tố tụng hành chính, người tiến hành tố tụng hành chính phải nghiêm túc tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hành chính trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình;

– Những người tham gia tố tụng hành chính phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng hành chính về quyền và nghĩa vụ của mình;

– Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về vụ án hành chính phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức và mọi người tôn trọng. Cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ quan Nhà nước được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó (Ðiều 9 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính).

Nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật:

Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không chỉ là một nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp của nước ta, mà còn được quy định trong Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới. Tuy việc quy định có khác nhau về hình thức nhưng về nội dung thì cơ bản là giống nhau. Ví dụ: khoản 1 Ðiều 97 Hiến pháp nước Cộng hòa liên bang Ðức năm 1959 quy định: Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Ở Việt Nam, nguyên tắc này có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu. Ðiều 69 Hiến pháp năm 1946 nước ta đã quy định: Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp. Hiến pháp năm 1959 ra đời, nguyên tắc này được ghi nhận một cách rõ nét hơn: Khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Ðiều 100 Hiến pháp 1959 và Ðiều 4 Luật tổ chức Tòa án nhân dân nam 1960). Ðiều 131 Hiến pháp 1980 và Ðiều 6 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 khẳng định cụ thể hơn nguyên tắc này: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được thể hiện ở các mặt:

– Thứ nhất: khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị ràng buộc bởi kết luận của Viện kiểm sát; không bị chi phối bởi ý kiến của nhau. Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án.

– Thứ hai: Thẩm phán và Hội thẩm độc lập cũng có nghĩa là không một cơ quan, tổ chức nào can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.

Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử phải gắn liền với việc tuân thủ pháp luật. Ðiều đó có nghĩa là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra ý kiến, quyết định của mình về từng vấn đề của vụ án hành chính, chứ không được tùy tiện hay bằng cảm tính.

25

Quy định này được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 vừa nhằm mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa thể hiện tính chất độc lập, không phụ thuộc vào các cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào trong hoạt động của Tòa án nhân dân. Trong thực tế có thể có những vi phạm đối với nguyên tắc độc lập xét xử này. Song đó là những vi phạm mang tính chất cá nhân, tư lợi, họ lợi dụng danh nghĩa cơ quan Ðảng, cơ quan Nhà nước, hoặc sự ảnh hưởng của mình nhằm tác động vào cơ quan xét xử, ép buộc cơ quan xét xử thực hiện theo yêu cầu của họ.

Ðể đảm bảo nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Nhà nước nên quan tâm đảm bảo một số điều kiện cần thiết như:

– Các Thẩm phán phải được đào tạo có chất lượng về nghiệp vụ xét xử hành chính.

– Pháp điển hóa những văn bản pháp luật về nội dung để tạo điều kiện cho các Thẩm phán áp dụng luật một cách dễ dàng.

– Tăng cường hơn nữa tính độc lập trong hoạt động xét xử bằng cách cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.

– Từng bước nghiên cứu để sửa đổi một số thủ tục tố tụng nói chung, và tố tụng hành chính nói riêng nhằm tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử có điều kiện nghị án không chỉ trên cơ sở những chứng cứ có trong hồ sơ, mà còn căn cứ chủ yếu vào diễn biến tại phiên tòa.

b) Nhóm các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng biệt của tố tụng hành chính

Nhóm nguyên tắc này bao gồm các nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tố tụng hành chính, bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau đây :

Thứ nhất, nguyên tắc tiền tố tụng hành chính

Ðây là nguyên tắc đặc thù nhất của Luật tố tụng hành chính, là điểm khác cơ bản so với các ngành luật tố tụng khác.

Theo nguyên tắc này, trước khi khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án có thẩm quyền, đương sự phải khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại tố cáo, cụ thể:

* Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về các khiếu kiện quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (xem thêm phần II chương 3) trong các trường hợp sau đây:

a) Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu

26

nại không được giải quyết và không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai;

b) Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai;

c) Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong trường hợp pháp luật quy định không được quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai;

d) Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai.

* Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 17 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (xem thêm phần II chương 3) trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó và không tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

b) Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó.

* Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 18 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (xem thêm phần II chương 3) nếu đã khiếu nại với cơ quan lập danh sách cử tri, nhưng không đồng ý về cách giải quyết của cơ quan đó.

* Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 19 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (xem thêm phần II chương 3) nếu đã khiếu nại với người đã ra quyết định kỷ luật, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó và không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo.

27

* Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 20 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (xem thêm phần II chương 3) nếu đã khiếu nại với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó.

* Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 21 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (xem thêm phần II chương 3) nếu đã khiếu nại với Hội đồng cạnh tranh hoặc Bộ trưởng Bộ Thương mại, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó.

* Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 22 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (xem thêm phần II chương 3) theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về các khiếu kiện đó.

Thứ hai, nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ

Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Toà án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu trong hồ sơ giải quyết việc hành chính, hồ sơ xét kỷ luật mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc có hành vi hành chính.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tham gia tố tụng với bên người khởi kiện, bên người bị kiện hoặc tham gia tố tụng độc lập, có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do pháp luật quy định.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án chứng cứ mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ.

Thứ ba, nguyên tắc các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hành chính

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án tạo điều kiện để các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nếu thoả thuận đó không trái pháp luật.

28

Người khởi kiện có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện. Người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị khiếu kiện.

Nguyên tắc này không chỉ giúp giải quyết được mâu thuẫn giữa các đương sự, giải quyết được vụ án mà còn giúp đỡ các đương sự thông cảm với nhau, góp phần làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Nhà nước luôn có sự gắn bó mật thiết, tin tưởng lẫn nhau, để Nhà nước ta thật sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Thứ tư, nguyên tắc việc khởi kiện vụ án hành chính không làm ngưng hiệu lực của quyết định hành chính.

IIIIII– QQUUAANN HHỆỆ PPHHÁÁPP LLUUẬẬTT TTỐỐ TTỤỤNNGG HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1 – Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính

a) Khái niệm

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó quyền và nghĩa vụ của những người tham gia quan hệ này được Nhà nước xác định và bảo đảm thực hiện. Như vậy, một quan hệ xã hội muốn trở thành quan hệ pháp luật thì phải được các quy phạm pháp luật điều chỉnh tác động vào.

Pháp luật tố tụng hành chính nước ta quy định đương sự có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần, nếu không có ai khởi kiện. Như vậy, khi những người có quyền khởi kiện, khởi tố vụ án hành chính thực hiện quyền khởi kiện, khởi tố của mình, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì tại Tòa án xuất hiện các quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát với các đương sự và với những người tham gia tố tụng khác. Các quan hệ này do Luật tố tụng hành chính điều chỉnh và được gọi là quan hệ pháp luật tố tụng hành chính.

Vậy, quan hệ pháp luật tố tụng hành chính là quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án, Viện kiểm sát với các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính và được các quy phạm pháp luật tố tụng hành chính điều chỉnh.

b) Ðặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính

Trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính, chủ thể chính là Tòa án – cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước để xét xử. Là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng giải quyết các khiếu kiện hành chính cho nên Tòa án có một địa vị pháp lý đặc biệt. Ðịa vị pháp lý của Tòa án thể hiện ở nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong quá trình tố tụng. Các quyết định của Tòa án trong quá trình xét xử

29

đều có tính chất bắt buộc chung đối với những người tham gia tố tụng. Bởi vậy, giữa Tòa án và những người tham gia tố tụng tồn tại quan hệ quyền uy, phụ thuộc, và cũng từ khi có sự tham gia của Tòa án thì mối quan hệ đó mới trở thành mối quan hệ pháp luật tố tụng hành chính.

Xét về nội dung trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính thì các quyền chủ quan của đương sự và những người tham gia vụ án thực hiện ở từng giai đoạn tố tụng chỉ thể hiện ý chí của một bên, như: quyền khởi kiện, khởi tố vụ án, quyền kháng cáo, quyền rút đơn khởi kiện, quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính bị khiếu kiệnv.v . . . Ðồng thời mỗi hành vi tố tụng của những người tham gia vụ án thực hiện quyền của mình là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể khác, như hành vi khởi kiện vụ án của người khởi kiện là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ thụ lý vụ án để giải quyết của Tòa án.

2. Các thành phần của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính

a) Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính

Chủ thể của quan hệ pháp luật là những con người cụ thể, những tổ chức tham gia vào quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, thực hiện các quyền chủ quan và nghĩa vụ pháp lý nhất định.

Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính bao gồm Tòa án nhân dân và những người tham gia tố tụng có liên quan đến quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính (Viện kiểm sát nhân dân, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch), trong đó quyền và nghĩa vụ của Tòa án cũng như các chủ thể khác được pháp luật xác định và bảo đảm thực hiện.

b) Nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính

Cũng như các quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa khác, nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính cũng bao gồm quyền chủ quan, và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính. Ðó là quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử của Nhà nước; quyền và nghĩa vụ khác của những người tham gia tố tụng ở các vị trí tố tụng khác nhau trong việc tiến hành các hành vi tố tụng khi Tòa án giải quyết vụ án hành chính.

Quyền chủ quan của mỗi chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính đều được bảo đảm thực hiện bằng nghĩa vụ tương ứng của chủ thể khác. Ðể một chủ thể thực hiện được quyền chủ quan của mình thì các chủ thể khác phải làm tròn nghĩa vụ pháp lý đặt ra đối với họ; đồng thời đối với mỗi chủ thể thì việc làm tròn nghĩa vụ pháp lý của mình là việc tạo điều kiện để thực hiện quyền chủ quan của họ.

c) Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính

30

Trong quan hệ pháp luật nói chung, các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bao giờ cũng nhằm đạt được lợi ích nhất định, lợi ích mà chủ thể của quan hệ pháp luật nhằm đạt được có thể là lợi ích vật chất, hoặc lợi ích phi vật chất.

Trong quá trình tố tụng, mọi hành vi tố tụng của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng đều nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng là đối tượng xem xét của Tòa án do các đương sự đặt ra và mong muốn được Tòa án giải quyết.

Ví dụ: Chi cục thú y thành phố X lập biên bản thu giữ mười ( 10 ) con lợn của ông A (ông A là lái buôn lợn), và ra Quyết định số 100/QÐ-TY xử lý bằng hình thức luộc chính 10 con lợn này (toàn bộ phủ tạng, đầu, móng của chúng được thiêu hủy bằng xăng) vì cho rằng những con lợn này mang bệnh Y. Ông A khiếu nại Quyết định này. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chi cục thú y, ông A khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố X. Ông cho rằng Quyết định 100/QÐ-TY trái pháp luật (vì lợn ông không mắc bệnh), và yêu cầu Tòa án phán quyết buộc Chi cục thúy y phải bồi thường thiệt hại cho ông.

Ở dụ này, Quyết định số 100/QÐ-TY là đối tượng xét xử của Tòa hành chính, còn khách thể của tranh chấp này là tính hợp pháp hay không hợp pháp của Quyết định 100/QÐ-TY.

Vậy, khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính là các quan hệ pháp luật về nội dung đang có tranh chấp, mà Tòa án cùng các chủ thể khác đều nhằm vào để giải quyết.

Câu hỏi

1) Trình bày các đặc điểm của Luật tố tụng hành chính Việt Nam?

2) Nội dung các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam?

Tài liệu tham khảo

1) Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001;

2) Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002;

3) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006.

31

Chương 3: THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

II– ÐÐỐỐII TTƯƯỢỢNNGG TTHHUUỘỘCC TTHHẨẨMM QQUUYYỀỀNN XXÉÉTT XXỬỬ CCỦỦAA TTÒÒAA HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

Ở nước ta, các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính. Pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam quy định đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính là: quyết định hành chính cá biệt và hành vi hành chính.

1. Quyết định hành chính cá biệt

Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính..

Như vậy, cấu thành nên khái niệm quyết định hành chính có các yếu tố sau:

Một là, chủ thể ban hành: có hai loại dưới đây:

– Cơ quan hành chính Nhà nước, bao gồm: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các Cục, Vụ,Viện, Sở, Phòng, Ban, các bệnh viện công, trường học công v.v. . .

– Người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước, bao gồm: những công chức có thẩm quyền nhất định, thường là người giữ các chức danh lãnh đạo, ví dụ như: Bộ trưởng, Cục trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND các cấp, Giám đốc, Phó Giám đốc sở; Trưởng, phó phòng ban v.v…

Hai là, nội dung của quyết định:

Nội dung của một quyết định hành chính chỉ đề cập đến một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính. Ví dụ như: về việc truy thu thuế, phạt hành chính, thu hồi giấy phép v.v. . . .

Ba là, tính chất áp dụng:

Quyết định hành chính chỉ được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Có nghĩa là, trong một quyết định hành chính bao giờ cũng xác định đối tượng chấp hành rất cụ thể. Ðây là yếu tố quan trọng để phân biệt với các văn bản pháp quy. Quyết định hành chính là một dạng của văn bản cá biệt. Ví dụ: quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị B. Mặt khác, nội dung của quyết định chỉ được áp dụng một lần, nó không có tính phổ biến và lâu dài. Như vậy, có những văn bản mặc dù thuộc hình thức quyết định, nhưng không phải là quyết định hành chính theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Ví dụ như: quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc ngừng nhập khẩu xe máy nguyên chiếc. Các quyết định loại này không áp dụng cho một đối tượng cụ thể, nó không chỉ có áp dụng một lần cho

32

nên không phải là quyết định hành chính, và cá nhân, cơ quan, tổ chức không có quyền khiếu nại những quyết định loại này.

Tóm lại, các quyết định hành chính thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính là quyết định bằng văn bản của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, văn phòng Chủ tịch nước, văn phòng Quốc hội, cơ quan Nhà nước địa phương, các Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể.

Cần lưu ý các quyết định của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân (từ đây viết tắt là VKSND) trong khi thực hiện chức năng tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng khi có khiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng. Chỉ có các quyết định hành chính như quyết định về buộc thôi việc cán bộ, nhân viên Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm trật tự phiên tòa, khi có khiếu kiện mới được xem là vụ án hành chính và được giải quyết theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Cần lưu ý rằng các quyết định hành chính của các tổ chức như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ðoàn Thanh niên Cộng sản HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Liên đoàn lao động v.v. . . cũng như các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các thành viên của các tổ chức này nếu có khiếu kiện thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Như vậy, ở đây quyết định hành chính cần được hiểu thống nhất là, một quyết định hành chính phải là một văn bản ban hành với tên loại là một quyết định. Ví dụ: quyết định giao đất, quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định đưa vào trường giáo dưỡng v.v… Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp do không thực hiện đúng qui trình, qui phạm ban hành văn bản, nên có những cơ quan Nhà nước đã ban hành những văn bản không phải bằng hình thức quyết định, mà được ban hành dưới hình thức một công văn, một báo cáo kết luận, một thông báo v.v… nhưng nội dung các văn bản này lại có những quy định có tính bắt buộc thi hành, và cơ quan nhà nước hoặc cán bộ viên chức nhà nước có thẩm quyền đã căn cứ vào các văn bản này để thi hành như một quyết định hành chính, thì cũng được coi là một quyết định hành chính bằng văn bản và cũng trở thành đối tượng bị khởi kiện vụ án hành chính nếu thỏa mãn các điều kiện khác do luật định.

2. Hành vi hành chính

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

33

Theo khái niệm này, thì có hai yếu tố cấu thành nên khái niệm hành vi hành chính, bao gồm:

Một là, chủ thể thực hiện hành vi:

Chủ thể thực hiện hành vi có thể là cơ quan hành chính Nhà nước, hoặc có thể là người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước.

Hai là, hình thức biểu hiện hành vi:

Hành vi hành chính được biểu hiện trong quá trình thực hiện công vụ, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, có thể dưới dạng hành động hoặc không hành động.

Như vậy, để được coi là một hành vi hành chính khi có khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thì trước hết hành vi đó phải là của cán bộ, viên chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, văn phòng Chủ tịch nước, văn phòng Quốc hội, cơ quan Nhà nước ở địa phương, các Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong khi thực thi công vụ theo quy định của pháp luật. Hành vi hành chính có thể là việc thực hiện hoặc có thể là việc không thực hiện công vụ theo quy định của pháp luật và không được thể hiện bằng văn bản.

Ví dụ: Hành vi hành chính là việc thực hiện công vụ theo quy định của pháp luật như: một người theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ thi hành quyết định hành chính của người có thẩm quyền về việc cưỡng chế tháo dỡ công trình phụ của một gia đình do có sự lấn chiếm đất của công, nhưng khi thi hành công vụ người đó không những tháo dỡ công trình phụ mà còn có hành vi phá bỏ một phần của ngôi nhà.

Ví dụ: Hành vi hành chính là việc không thực hiện công vụ theo quy định của pháp luật như: một cơ quan hoặc một người theo quy định của pháp luật sau khi nhận đủ hồ sơ về việc xin cấp giấy phép xây dựng nhà ở, mặc dù hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu cần thiết, thế nhưng quá thời hạn do pháp luật quy định, cơ quan đó hoặc người đó vẫn không cấp giấy phép xây dựng nhà ở cho người xin phép.

Cần chú ý là, không phải tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan, cán bộ, công chức nêu tại Ðiều 4 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính khi có khiếu kiện đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, mà chỉ có những quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc các loại việc nêu ở Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính – sẽ được trình bày ở mục II dưới đây – nếu có khiếu kiện mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

IIII– CCÁÁCC LLOOẠẠII KKHHIIẾẾUU KKIIỆỆNN TTHHUUỘỘCC TTHHẨẨMM QQUUYYỀỀNN GGIIẢẢII QQUUYYẾẾTT CCỦỦAA TTÒÒAA HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

Theo quy định của pháp luật nước ta thì Tòa án thực hiện thẩm quyền đặc biệt của Nhà nước là thẩm quyền xét xử. Các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tạo nên thẩm quyền chung của Tòa hành chính (thẩm

34

quyền chung của TAND trong giải quyết các vụ án hành chính). Theo quy định tại Ðiều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết các loại khiếu kiện sau đây:

1. Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Quyết định xử phạt hành chính là hình thức pháp lý ghi nhận việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi cố ý hay vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải tội phạm hình sự, và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với tất cả các loại việc khiếu kiện về xử phạt vi phạm hành chính trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, kể cả hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ xung, cũng như các biện pháp xử lý kèm theo, căn cứ vào Pháp lệnh xử lý vi phạm hành, các Luật về thuế và các Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính đối với từng lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể.

2. Khiếu kiện quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;

3. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

4. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính bằng một trong các hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính

Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính là các biện pháp xử lý hành chính được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và được cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thi hành.

5. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố khác

Ở đây được xác định gồm hai loại việc:

– Quyết định xử lý hành chính áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình xây dựng trái phép theo quy định tại Ðiều 12 và Ðiều 18 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; và

– Quyết định hành chính áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở và công trình vật kiến trúc kiên cố vi phạm vào chỉ giới an toàn giao thông, an toàn đê điều, an toàn lưới điện . . . hoặc để giải tỏa mặt bằng phục vụ các dự án quy hoạch phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

Về khái niệm “công trình, vật kiến trúc kiên cố khác” theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao phải được hiểu như sau:

35

“Công trình” phải là vật chắc chắn, bền vững mà việc xây dựng nó công phu, phải có khoa học, kỹ thuật hoặc nghệ thuật. Ví dụ: một bức tượng đài; một hệ thống phục vụ nuôi trồng thuỷ sản…

“Vật kiến trúc kiên cố khác” là ngoài nhà ở, công trình thì vật kiến trúc kiên cố khác phải 1à vật được xây dựng chắc chắn và bền vững có giá trị sử dụng lâu dài. Ví dụ: giếng nước, nhà để ôtô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, nhà xưởng, kho tàng…

Không phân biệt giá trị nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố khác từ bao nhiêu trở lên, nếu có khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ Toà án mới thụ lý giải quyết, mà chỉ cần xác định đúng đó là nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố khác thì Toà án phải thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.

6. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề hoặc khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính khác liên quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính của thương nhân

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét tính chất, nội dung của việc xây dựng cơ bản, của hoạt động sản xuất, kinh doanh xem có phù hợp với quy hoạch, có đúng với quy định của pháp luật không, và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức đó có hội đủ các điều kiện không để quyết định cấp hoặc không cấp giấy phép trong thời hạn luật định.

Các cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức được cấp giấy phép xây dựng cơ bản, hoặc giấy phép sản xuất, kinh doanh nếu không thực hiện đúng với nội dung và mục đích ghi trong giấy phép, hoặc vi phạm các quy tắc sử dụng giấy phép đến mức bị xử phạt vi phạm hành chính thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ra quyết định thu hồi có thời hạn hoặc không thời hạn các loại giấy phép này.

Các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp giấy phép, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh nếu có khiếu kiện thì Tòa hành chính có thẩm quyền thụ lý và giải quyết.

7. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến thương mại hàng hoá quốc tế hoặc trong nước;

8. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến chuyển giao tài chính trong nước và quốc tế, dịch vụ và cung ứng dịch vụ;

9. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định, nếu cơ quan nào vi phạm thể thức này thì có thể bị khiếu kiện hành chính.

36

Quyết định tịch thu tài sản là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nhằm chuyển quyền sở hữu của cá nhân, cơ quan, tổ chức sang quyền sở hữu Nhà nước đối với tài sản liên quan trực tiếp đến vụ vi phạm hành chính (tang vật, phương tiện trong vi phạm hành chính). Cần chú ý là, chỉ có những quyết định tịch thu tài sản theo thủ tục hành chính nếu bị khiếu kiện hành chính mới được xem là đối tượng xét xử của Tòa hành chính. Ðối với quyết định tịch thu tài sản theo thủ tục tố tụng tư pháp (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự), nếu có kháng cáo, kháng nghị sẽ được giải quyết theo trình tự tố tụng tư pháp.

10. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế

Dưới góc độ pháp lý thì thuế là một khoản nộp bắt buộc của các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội vào ngân sách nhà nước.

Vì vậy, các quyết định về thu thuế, truy thu thuế ở đây là các quyết định ấn định mức nộp thuế cụ thể của tổ chức, cá nhân trên cơ sở luật thuế. Pháp lệnh chỉ quy định chung là quyết định hành chính, hành vi hành chính trong thu thuế, truy thu thuế, mà không giới hạn loại thuế nào. Do đó, ở đây có thể hiểu thẩm quyền xét xử của Toà hành chính trong lĩnh vực này là tất cả các quyết định về thu thuế, truy thu thuế đối với các loại thuế.

11. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng phí, thu phí, lệ phí; thu tiền sử dụng đất

Theo quy định tại Ðiều 2 và Ðiều 3 Pháp lệnh về phí và lệ phí năm 2001 thì phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo. Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo.

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính cũng không giới hạn là khiếu kiện đối với các khoản phí, lệ phí nào. Nên có thể hiểu rằng, đối tượng xét xử của Toà hành chính trong lĩnh vực này là toàn bộ các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về thu phí, lệ phí.

12. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ;

13. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về đầu tư;

14. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hải quan, công chức hải quan;

15. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý hộ tịch;

16. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính đối với việc từ chối công chứng, chứng thực;

37

17. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gia hạn thời hạn sử dụng đất;

18. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

19. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp này được hiểu là những quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức nhà nước. Ðây là biện pháp cưỡng chế kỷ luật do nhà nước quy định được áp dụng đối với các cán bộ, công chức nhà nước có hành vi vi phạm chế độ lao động, công tác của đơn vị, cơ quan nhà nước. Việc áp dụng loại trách nhiệm kỷ luật này phải tuân theo trình tự, thủ tục hành chính và do thủ trưởng cơ quan ra quyết định. Ðây là hình thức nặng nhất trong các hình thức kỷ luật lao động theo thủ tục hành chính, nó làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ lao động có tính chất công vụ của cán bộ, công chức nhà nước. Chỉ có những quyết định buộc thôi việc với nội dung và tính chất như đã trình bày mới thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính.

Còn đối với quyết định sa thải theo quy định của Bộ luật Lao động nếu có khiếu kiện thì Tòa lao động sẽ thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố tụng lao động; quyết định buộc thôi việc trong lực lượng Quân đội nhân dân đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, cũng như đối với sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp thuộc lực lượng Công an nhân dân không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hành chính.

20. Khiếu kiện quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư;

21. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

22. Các khiếu kiện khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

IIIIII– TTHHẨẨMM QQUUYYỀỀNN XXÉÉTT XXỬỬ SSƠƠ TTHHẨẨMM VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH CCỦỦAA TTÒÒAA ÁÁNN NNHHÂÂNN DDÂÂNN CCÁÁCC CCẤẤPP

1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án cấp huyện) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

38

a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh thổ với Toà án và của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đó;

b) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh thổ với Toà án đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó;

c) Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng lãnh thổ với Toà án.

2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án cấp tỉnh) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng các cơ quan đó mà người khởi kiện là cá nhân có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc người khởi kiện là cơ quan, tổ chức có trụ sở trên cùng lãnh thổ với Toà án;

b) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan chức năng thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại điểm a khoản này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ, công chức của các cơ quan chức năng đó mà người khởi kiện là cá nhân có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc người khởi kiện là cơ quan, tổ chức có trụ sở trên cùng lãnh thổ với Toà án;

c) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng lãnh thổ với Toà án và của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đó;

d) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trên cùng lãnh thổ với Toà án đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó, trừ những khiếu kiện thuộc quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện;

đ) Khiếu kiện quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cùng lãnh thổ với Toà án giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư;

e) Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện là cá nhân có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc người khởi kiện là cơ quan, tổ chức có trụ sở trên cùng lãnh thổ với Toà án;

g) Trong trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện liên quan đến nhiều đối tượng, phức tạp hoặc trong trường hợp các Thẩm

39

phán của Tòa án cấp huyện đó đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.

Pháp luật tố tụng hành chính nước ta quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa án các cấp, đồng thời cũng quy định cụ thể những trường hợp mà Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, do đó, cần lưu ý là:

– Ðối với Tòa án cấp dưới, khi thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của mình theo thủ tục sơ thẩm, nhưng thuộc một trong các trường hợp mà Tòa án cấp trên có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và xét thấy việc Tòa án cấp trên giải quyết là cần thiết, thì chủ động yêu cầu Tòa án cấp trên lấy lên để giải quyết.

– Ðối với Tòa án cấp trên, khi thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án cấp dưới, nhưng thuộc một trong các trường hợp mà mình có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và tự xét thấy việc lấy lên để giải quyết là cần thiết hoặc khi có yêu cầu của Tòa án cấp dưới, thì mới lấy lên để giải quyết.

IIVV — XXÁÁCC ÐÐỊỊNNHH TTHHẨẨMM QQUUYYỀỀNN TTHHỤỤ LLÝÝ GGIIẢẢII QQUUYYẾẾTT CCÁÁCC VVỤỤ KKIIỆỆNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Xác định thẩm quyền thụ lý giải quyết giữa Toà án với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo theo thủ tục hành chính

Trong trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức không được giải quyết hoặc đã được giải quyết lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý mà khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai và khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền thì phân biệt thẩm quyền như sau:

a) Trường hợp chỉ có một người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai thì việc giải quyết thuộc thẩm quyền của Toà án. Cơ quan đã thụ lý việc giải quyết khiếu nại phải chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Toà án có thẩm quyền;

b) Trường hợp có nhiều người mà họ vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai hoặc trong đó có người khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, có người khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai thì việc giải quyết thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai. Toà án đã thụ lý vụ án hành chính phải chuyển hồ sơ vụ án cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ngay sau khi phát hiện việc giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền của mình;

40

Nếu hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo thủ tục chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Xác định thẩm quyền thụ lý giải quyết giữa các tòa án, giữa các tòa chuyên trách

Toà án đã thụ lý vụ án hành chính, nếu phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Toà án đã ra quyết định chuyển vụ án hành chính phải giải quyết khiếu nại, kiến nghị.

Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Toà án cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh án Toà án cấp tỉnh giải quyết.

Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Toà án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án cấp tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao giải quyết./.

Câu hỏi

1) Đối tượng xét xử của Tòa hành chính?

2) Các loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hành chính?

Tài liệu tham khảo

1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006;

2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006;

3) Quyết định hành chính, hành vi hành chính: đối tượng xét xử của toà án – NXB. Tổng hợp Ðồng Nai – năm 2001 (tập thể tác giả: Phạm Hồng Thái, Vũ Ðức Hán, v.v. . . ).

41

Chương 4: NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG

Trong quá trình Tòa án xét xử một vụ án hành chính thì có sự tham gia của nhiều người. Những người này tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hành chính với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật này, có các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau nên vị trí tố tụng của họ cũng khác nhau theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Căn cứ vào vị trí tố tụng, quyền và nghĩa vụ tố tụng có thể phân chủ thể của quan hệ tố tụng hành chính thành hai nhóm:

– Người tiến hành tố tụng; và

– Người tham gia tố tụng.

II– NNGGƯƯỜỜII TTIIẾẾNN HHÀÀNNHH TTỐỐ TTỤỤNNGG::

1. Các cơ quan tiến hành tố tụng hành chính:

a) Toà án nhân dân;

b) Viện kiểm sát nhân dân.

2. Những người tiến hành tố tụng hành chính:

a) Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án;

b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên.

3. Hội đồng xét xử

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.

Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án cấp tỉnh là Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh. Khi Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh tiến hành giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia.

Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao gồm có ba Thẩm phán.

Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án nhân dân tối cao là Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Khi Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia.

42

Các Hội đồng xét xử quyết định theo đa số, riêng Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

4. Thay đổi người tiến hành tố tụng

* Quy định chung:

Người tiến hành tố tụng nói chung phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

a) Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;

b) Họ đã tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;

c) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định hành chính hoặc có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện;

d) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính;

đ) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức hoặc đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức;

e) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư;

g) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

h) Họ đã tham gia vào việc lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

i) Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

* Riêng đối với Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thì ngoài những quy định chung nêu trên còn phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

a) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

b) Họ đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh thì vẫn được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

c) Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thư ký Toà án.

43

* Riêng đối với Kiểm sát viên, Thư ký Toà án thì ngoài những quy định chung nêu trên còn phải còn phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án.

Trước khi mở phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án do Chánh án Toà án quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Toà án thì do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định.

Trước khi mở phiên toà, việc thay đổi Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Tại phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số.

Trong trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà. Việc cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án thay thế người bị thay đổi do Chánh án Toà án quyết định; nếu người bị thay đổi là Chánh án Toà án thì do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định. Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày hoãn phiên toà, Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát phải cử người khác thay thế.

IIII– NNGGƯƯỜỜII TTHHAAMM GGIIAA TTỐỐ TTỤỤNNGG

1. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng hành chính

a) Năng lực pháp luật tố tụng hành chính

Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng do pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có những quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính.

Năng lực pháp luật tố tụng hành chính xuất hiện ở công dân từ khi người đó sinh ra và mất đi khi người đó chết. Ðối với cơ quan, tổ chức thì năng lực pháp luật tố tụng hành chính phát sinh từ thời điểm thành lập và mất đi khi bị giải thể.

Pháp luật quy định tất cả mọi người đều có năng lực pháp luật tố tụng hành chính ngang nhau, đây là điểm khác so với năng lực hành vi.

b) Năng lực hành vi tố tụng hành chính

44

Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình (đương sự) thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện khi cần thiết.

Năng lực hành vi tố tụng hành chính hoàn toàn khác với năng lực pháp luật tố tụng hành chính. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính xuất hiện ở công dân từ khi người đó sinh ra và mất đi khi người đó chết; còn năng lực hành vi tố tụng hành chính chỉ xuất hiện ở những đương sự từ đủ 18 tuổi trở lên. Ðối với cơ quan, tổ chức thì thời điểm phát sinh và chấm dứt năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính là trùng nhau.

Ðương sự từ đủ mười tám tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính.

Ðương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng thông qua người đại diện; nếu không có ai đại diện cho họ, thì Tòa án cử một người thân thích của họ hoặc yêu cầu một cơ quan, tổ chức cử một thành viên làm người đại diện cho họ.

Ðương sự là cá nhân thì tự mình hoặc có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Ðương sự là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.

2. Người tham gia tố tụng

Những người tham gia tố tụng hành chính bao gồm: đương sự, người đại diện do đương sự ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.

Một số điểm đặc trưng của những người tham gia tố tụng hành chính:

– Người tham gia tố tụng hành chính là người tự mình thực hiện những hành vi tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện thay khi cần thiết nhằm làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng;

– Người tham gia tố tụng hành chính là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, của Nhà nước, của tập thể hay của người khác;

Thành phần người tham gia tố tụng hành chính có thể chia làm hai loại như sau:

1. Ðương sự (hay người đại diện do đương sự ủy quyền);

2. Người tham gia tố tụng khác (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch).

a)Ðương sự trong tố tụng hành chính

Các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án.

45

Ðương sự có thể ủy quyền bằng văn bản cho luật sư hoặc người khác đại diện cho mình tham gia tố tụng (trừ những người sau đây: a) Không có quốc tịch Việt Nam, không cư trú ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với đương sự có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; b) Chưa đủ 18 tuổi; c) Bị bệnh tâm thần; d) Đã bị khởi tố về hình sự hoặc bị kết án, nhưng chưa được xoá án; đ) Cán bộ Toà án, Viện kiểm sát; e) Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng trong vụ án; g) Người thân thích với Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên đang tham gia giải quyết vụ án).

Khái niệm đương sự trong tố tụng hành chính bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

a1) Người khởi kiện

Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc cán bộ, công chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định kỷ luật buộc thôi việc, nên đã khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền.

Người khởi kiện phải làm đơn kiện theo quy định tại Ðiều 30 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính; có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện.

a2) Người bị kiện

Người bị kiện là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị khiếu kiện.

Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án bản sao văn bản quy phạm pháp luật cũng như bản sao các văn bản tài liệu khác mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc có hành vi hành chính.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức, khắc phục hành vi hành chính bị khiếu kiện, có quyền phản bác yêu cầu của người khởi kiện hoặc đề xuất yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của người người khởi kiện.

a3) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức do có việc khởi kiện vụ án hành chính của người khởi kiện đối với người bị kiện mà việc giải quyết vụ án hành chính đó có liên quan đến quyền lợi hoặc nghĩa vụ của họ.

46

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tham gia tố tụng với bên người khởi kiện, bên người bị kiện hoặc tham gia tố tụng độc lập, có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

* Quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong tố tụng hành chính:

Trong tố tụng hành chính, các đương sự có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

* Các đương sự có quyền:

– Ðưa ra tài liệu, chứng cứ; được đọc, sao chụp, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp;

– Yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

– Tham gia phiên tòa;

– Yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch nếu có lý do theo quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

– Thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hành chính, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật;

– Tranh luận tại phiên tòa;

– Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;

– Ðề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

* Các đương sự có nghĩa vụ:

– Cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ có liên quan theo yêu cầu của Tòa án;

– Có mặt theo giấy triệu tập của tòa án;

– Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa.

Lưu ý: Người đại diện do đương sự ủy quyền chỉ được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi được ủy quyền. Việc ủy quyền này phải làm thành văn bản và được chứng thực hợp pháp. Tuy nhiên, cần lưu ý là những người được quy định tại khoản 1 Ðiều 22 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính không được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện do đương sự ủy quyền.

b) Người tham gia tố tụng khác

b1) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, thì đương sự tự mình hoặc có thể nhờ luật sư hay người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

47

Một người có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền lợi của những người đó không đối lập nhau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền:

– Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện;

– Ðề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật;

– Cung cấp tài liệu, chứng cứ, đề đạt yêu cầu, đọc hồ sơ vụ án, sao chép những điểm cần thiết trong hồ sơ vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ sử dụng các quyền tố tụng theo quy định của pháp luật để góp phần là sáng tỏ sự thật của vụ án.

b2) Người làm chứng

Người làm chứng là người biết những tình tiết liên quan đến vụ án hành chính có thể tự mình hoặc được Tòa án, Viện kiểm sát triệu tập đến làm chứng.

Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, Viện kiểm sát; có nghĩa vụ trình bày trung thực tất cả những gì mình biết về vụ án và phải chịu trách nhiệm về lời trình bày của mình.

Pháp luật nước ta không cấm những người làm chứng là người thân thích, bạn bè của đơn sự.

b3) Người giám định

Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định mà Tòa án, Viện kiểm sát trưng cầu.

Người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án liên quan đến đối tượng phải giám định, đồng thời có nghĩa vụ giám định một cách khách quan, trung thực đối tượng được yêu cầu giám định.

b4) Người phiên dịch

Người phiên dịch do Tòa án cử trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt.

Ðiều 7 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định tiếng nói, chữ viết dùng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Ðối với các công dân nước ngoài không biết tiếng Việt được Tòa án cử người phiên dịch giúp đỡ họ trong quá trình tố tụng.

Người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu thuộc một trong những trường hợp sau:

a) Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;

48

b) Họ đã tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;

c) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định hành chính hoặc có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện;

d) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính;

đ) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức hoặc đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức;

e) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư;

g) Họ đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

h) Họ đã tham gia vào việc lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

i) Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Việc thay đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án quyết định; tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi.

IIIIII– VVỀỀ VVIIỆỆCC VVIIỆỆNN KKIIỂỂMM SSÁÁTT NNHHÂÂNN DDÂÂNN TTHHAAMM GGIIAA PPHHIIÊÊNN TTOOÀÀ

Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà xét xử vụ án hành chính.

Đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, nếu không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hành chính và có trách nhiệm cung cấp chứng cứ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà sơ thẩm, nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm; nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà. Toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

49

IIVV– QQUUYYỀỀNN CCỦỦAA TTHHỦỦ TTƯƯỚỚNNGG CCHHÍÍNNHH PPHHỦỦ YYÊÊUU CCẦẦUU XXEEMM XXÉÉTT LLẠẠII BBẢẢNN ÁÁNN,, QQUUYYẾẾTT ÐÐỊỊNNHH ÐÐÃÃ CCÓÓ HHIIỆỆUU LLỰỰCC PPHHÁÁPP LLUUẬẬTT

Theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính nước ta, trong trường hợp nhận thấy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là không đúng, thì Thủ tướng Chính phủ có quyền yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện khiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết theo thẩm quyền và trả lời Thủ tướng Chính phủ trong thời hạn ba mươi ngày.

Ðây là điểm khác biệt của Luật tố tụng hành chính so với ngành luật tố tụng khác. Ở các ngành luật tố tụng khác như: tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng kinh tế, v.v…. thì Thủ tướng Chính phủ không có quyền này./.

Câu hỏi

1) Các trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng?

2) Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính?

Tài liệu tham khảo

1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006;

2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006.

50

Chương 5: CHỨNG CỨ, ÁN PHÍ VÀ LỆ PHÍ TÒA ÁN

II– CCHHỨỨNNGG CCỨỨ TTRROONNGG TTỐỐ TTỤỤNNGG HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Khái niệm chứng cứ

Ðể làm rõ những tình tiết liên quan đến vụ án hành chính, Tòa án cần có quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, lời khai của các đương sự, của người làm chứng, kết luận của người giám định (nếu có) và những người có liên quan khác, các tài liệu, các vật có liên quan nhằm sử dụng làm phương tiện chứng minh để xác định những tình tiết của vụ án. Các chứng cứ được rút ra từ những phương tiện này.

Vì vậy, ta có thể hiểu chứng cứ là những gì có thật mà dựa vào đó và theo một trình tự do luật định, Tòa án xác định có hay không có những tình tiết làm cơ sở cho các yêu cầu của đương sự, Viện kiểm sát và những tình tiết khác có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Tính chất của chứng cứ

Chứng cứ phải có những thuộc tính sau đây:

a) Tính khách quan của chứng cứ

Tính khách quan của chứng cứ được thể hiện ở điểm chứng cứ là những gì có thật. Ðiểm quan trọng của chứng cứ là toàn bộ những tài liệu thu được phải thực sự khách quan chứ không thể là ý nghĩ chủ quan của người tiến hành tố tụng.

b) Tính liên quan của chứng cứ

Tính liên quan của chứng cứ trong tố tụng hành chính được thể hiện ở chỗ những tài liệu thu được phải liên quan đến vụ án hành chính mà Tòa án đang tiến hành giải quyết. Ðiều này có nghĩa là, những tài liệu này phải chứng minh được những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hành chính; hoặc làm sáng tỏ được những vấn đề cần được làm sáng tỏ trong vụ án thì được coi là có liên quan đến vụ án hành chính.

c) Tính hợp pháp của chứng cứ

Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở những điểm sau:

– Chứng cứ phải là những tài liệu được thu thập thông qua hoạt động của Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án.

Các nguồn tài liệu này có thể là: lời khai của các đương sự, của những người tham gia tố tụng khác, những thông tin, tài liệu được thu thập từ các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội về vụ án.

51

– Việc thu thập phải được tiến hành công khai; quá trình thu thập phải theo đúng trình tự do pháp luật tố tụng quy định.

3. Thu thập chứng cứ

Khi tham gia tố tụng, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy cần thiết, Tòa án có thể tự mình hoặc ủy thác cho Tòa án khác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án. Tòa án được ủy thác có nhiệm vụ thực hiện ngay việc ủy thác và thông báo kết quả cho Tòa án đã ủy thác.

Việc xác minh, thu thập chứng cứ bao gồm:

– Yêu cầu các đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc trình bày về những vấn đề cần thiết;

– Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp bằng chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án;

– Yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết;

– Xác minh tại chỗ;

– Trưng cầu giám định và tiến hành một số biện pháp cần thiết khác.

IIII — ÁÁNN PPHHÍÍ VVÀÀ LLỆỆ PPHHÍÍ TTÒÒAA ÁÁNN

1. Án phí hành chính

a) Khái niệm:

Án phí hành chính là số tiền đương sự phải nộp vào ngân sách nhà nước khi vụ án hành chính được tòa án giải quyết và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí hành chính là phương thức đền bù một phần chi phí của nhà nước cho việc tòa án tiến hành giải quyết vụ án hành chính. Ðồng thời, việc thu án phí hành chính còn có tác dụng buộc các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, ngăn ngừa việc khiếu kiện không có căn cứ.

Trong trường hợp, đương sự có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, họ có thể được tòa án cho miễn nộp một phần hoặc toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật; và trong một số trường hợp, pháp luật quy định không thu án phí.

Án phí hành chính gồm: án phí hành chính sơ thẩm, và án phí hành chính phúc thẩm.

b) Mức án phí hành chính:

Mức án phí hành chính là số tiền đương sự phải chịu cho mỗi vụ án.

52

Theo quy định tại Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Toà án thì mức án phí hành chính các loại được quy định một mức chung là 50.000 đồng. Ðiều này được hiểu là, mức án phí hành chính sơ thẩm là 50.000 đồng và án phí hành chính phúc thẩm cũng là 50.000 đồng đối với một vụ án.

Ðối với phần dân sự về bồi thường thiệt hại trong các vụ án hành chính thì người phải bồi thường phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí dân sự.

Lưu ý: đến hiện tại thì Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Toà án vẫn còn hiệu lực, tuy nhiên trong tương lai gần thì Nghị định này sẽ bị thay thế bởi Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án.

c) Việc nộp tiền tạm ứng án phí hành chính

Số tiền đương sự phải nộp vào ngân sách nhà nước khi khởi kiện hoặc khi kháng cáo được gọi là tiền tạm ứng án phí hành chính.

Theo quy định của pháp luật, thì người khởi kiện vụ án hành chính, người kháng cáo phúc thẩm bản án, quyết định hành chính sơ thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí là 50.000 đồng, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm hoặc án phí phúc thẩm, nếu rút đơn kiện trước khi mở phiên tòa sơ thẩm hoặc đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, thì được trả lại 50% số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Người đã nộp tiền tạm ứng án phí được trả lại toàn bộ, nếu theo quyết định của Tòa án họ không phải chịu án phí hoặc được trả lại phần chênh lệch, nếu theo quyết định của Tòa án họ phải chịu án phí ít hơn số tiền tạm ứng án phí mà họ đã nộp.

d) Người phải chịu án phí hành chính

Trong bản án, quyết định tòa án phải xác định rõ đương sự nào phải chịu án phí, số tiền án phí phải chịu là bao nhiêu.

Việc chịu án phí hành chính sơ thẩm, án phí hành chính phúc thẩm được thực hiện như sau:

– Việc chịu án phí hành chính sơ thẩm:

Bên có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, nếu bản án hoặc quyết định của Tòa án tuyên các quyết định hành, hành vi hành chính đó là trái pháp luật.

Trường hợp, các quyết định hành, hành vi hành chính bị khiếu kiện được Tòa án giữ nguyên thì người khởi kiện phải chịu án phí.

– Việc chịu án phí hành chính phúc thẩm:

53

– Ðương sự kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm (mức án phí là 50.000đồng), nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm.

– Ðương sự kháng cáo không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm, hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm.

đ) Miễn án phí

Về nguyên tắc, các đương sự phải chịu án phí hành chính theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do tính chất quan hệ pháp luật tòa án giải quyết trong vụ án, do hoàn cảnh kinh tế của đương sự nên pháp luật quy định việc miễn án phí cho họ. Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự tham gia tố tụng tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của mình hoặc của người khác.

Theo quy định tại Ðiều 31 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ, thì, những đối tượng dưới đây được không phải nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí hành chính gồm:

– Thương binh, bố, mẹ liệt sĩ, người có công với cách mạng được miễn án phí;

– Viện kiểm sát khởi tố vụ án hành chính, kháng nghị bản án , quyết định hành chính sơ thẩm không phải nộp tiền tạm ứng án phí và án phí;

– Các đương sự khác được miễn án phí trong trường hợp:

(1) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống;

(2) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản.

– Người có khó khăn về kinh tế được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú xác nhận có thể được Tòa án miễn một phần hoặc toàn bộ án phí.

2. Lệ phí giấy tờ

Lệ phí giấy tờ là số tiền đương sự phải nộp vào ngân sách nhà nước khi tòa án cấp giấy tờ ngoài việc giải quyết vụ án theo yêu cầu của đương sự.

Ðiều 32 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án quy định: Bị cáo, người bị kết án, đương sự đã được cấp bản sao trích lục bản án, quyết định hoặc bản sao toàn bộ bản án, quyết định hoặc xin cấp giấy chứng nhận xóa án theo quy định của pháp luật, nếu xin cấp thêm bản sao trích lục bản án, quyết định hoặc bản sao toàn bộ bản án, quyết định hoặc xin cấp giấy chứng nhận xóa án, thì phải nộp lệ phí là một ngàn đồng (1.000) một trang.

Theo quy định này thì, các đương sự trong vụ án hành chính, có quyền yêu cầu tòa án cấp thêm bản sao trích lục bản án, quyết định hoặc bản sao toàn bộ bản

54

án, quyết định về vụ án hành chính đó, nhưng phải nộp lệ phí là 1.000 đồng cho một trang.

Lệ phí phải được nộp đủ một lần tại cơ quan tòa án cùng với đơn yêu cầu và các giấy tờ kèm theo.

Lưu ý: hiện tại thì Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Toà án vẫn còn hiệu lực, tuy nhiên trong tương lai gần thì Nghị định này sẽ bị thay thế bởi Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án./.

Câu hỏi

1) Khái niệm và tính chất của chứng cứ?

2) Án phí hành chính?

Tài liệu tham khảo

1) Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Toà án.

55

Chương 6: KHỞI KIỆN, KHỞI TỐ VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

II– KKHHỞỞII KKIIỆỆNN,, KKHHỞỞII TTỐỐ VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Quyền khởi kiện, khởi tố vụ án hành chính

Quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền tố tụng của cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Ðiều 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định: Cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình (giải thích: cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân).

Ðồng thời, tại Ðiều 18 của cùng Pháp lệnh cũng quy định đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần, nếu không có ai khởi kiện, thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hành chính và có trách nhiệm cung cấp chứng cứ.

Như vậy, trong hoạt động tố tụng hành chính, khởi kiện, khởi tố vụ án hành chính được coi là cơ sở pháp lý đầu tiên làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hành chính. Giai đoạn này phát sinh từ khi các chủ thể của quyền khởi kiện, khởi tố vụ án hành chính thực hiện quyền khởi kiện, khởi tố vụ án và kết thúc khi Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án, hay quyết định trả lại đơn kiện (tức quyết định không thụ lý vụ án khi có những căn cứ nhất định). Trong trường hợp, Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án hành chính thì quá trình tố tụng sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo (giai đoạn chuẩn bị xét xử).

2. Nguyên tắc khởi kiện vụ án hành chính

Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính, nhưng phải tuân thủ các quy định sau của pháp luật tố tụng hành chính:

a) Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các trường hợp sau:

Ðã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết và cũng không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo.

56

Ðã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại và cũng không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo.

b) Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính về quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với mình, nếu đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại và cũng không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo.

c) Thời hiệu khởi kiện:

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:

a) Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó;

Đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn khởi kiện là bốn mươi lăm ngày

b) Đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần hai, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó;

Đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn khởi kiện là bốn mươi lăm ngày

c) Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 2 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó;

d) Đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh chậm nhất là năm ngày, trước ngày bầu cử, nhưng không đồng ý về cách giải quyết của cơ quan lập danh sách cử tri;

57

đ) Đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 2 của Pháp lệnh là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó;

Đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn khởi kiện là bốn mươi lăm ngày

e) Đối với trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 2 của Pháp lệnh là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó;

g) Đối với trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 2 của Pháp lệnh là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh hoặc của Bộ trưởng Bộ Thương mại, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó;

h) Đối với trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 2 của Pháp lệnh thì thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về trường hợp đó; nếu pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế không có quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện là ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai hay kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai.

Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì trở ngại khách quan khác mà người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn nêu trên thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khởi kiện.

3. Hình thức khởi kiện

Người khởi kiện phải làm đơn kiện gởi đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đó.

Ðơn kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;

d) Nội dung quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức hay tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;

đ) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có);

e) Các yêu cầu Toà án giải quyết.

Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; nếu việc khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do cha, mẹ, người giám hộ của những người này ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp

58

Viện kiểm sát khởi tố thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm ký tên và đóng dấu. Kèm theo đơn khởi kiện, văn bản khởi tố phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện, việc khởi tố là có căn cứ và hợp pháp.

IIII– TTHHỤỤ LLÝÝ VVỤỤ ÁÁNN,, TTRRẢẢ LLẠẠII ÐÐƠƠNN KKIIỆỆNN

1. Thụ lý vụ án

Thụ lý vụ án là việc tòa án chấp nhận đơn khởi kiện hoặc quyết định khởi tố vụ án của chủ thể khởi kiện, khởi tố vụ án hành chính và vào sổ thụ lý vụ án.

Khi Tòa án xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

Tòa án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, thì Tòa án thụ lý vụ án vào ngày nhận được đơn kiện.

Sau khi Toà án đã thụ lý vụ án, đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm việc thi hành án; đương sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu có lỗi trong việc gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó; nếu do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án.

Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được Toà án xem xét trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; nếu có đủ căn cứ pháp luật và xét thấy cần thiết chấp nhận yêu cầu thì Toà án ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải ghi rõ thời hạn có hiệu lực của quyết định, nhưng không được quá thời hạn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Toà án đó. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này được thực hiện theo các quy định tương ứng của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm có:

1. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu kiện;

59

2. Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện những hành vi nhất định nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án hành chính hoặc để bảo đảm cho việc thi hành án.

2. Những trường hợp Tòa án trả lại đơn kiện

Tòa án trả lại đơn kiện trong các trường hợp sau đây:

a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

b) Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;

c) Không đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;

d) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án;

đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện.

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án./.

Câu hỏi

1) Quyền khởi kiện, khởi tố vụ án hành chính?

2) Nguyên tắc khởi kiện vụ án hành chính?

3) Nội dung đơn kiện?

4) Thụ lý vụ án?

Tài liệu tham khảo

1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006;

2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006.

60

Chương 7: CHUẨN BỊ XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

II– NNHHIIỆỆMM VVỤỤ,, ÝÝ NNGGHHĨĨAA CCỦỦAA GGIIAAII ÐÐOOẠẠNN CCHHUUẨẨNN BBỊỊ XXÉÉTT XXỬỬ VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

Chuẩn bị xét xử vụ án hành chính là việc Tòa án có thẩm quyền tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ của vụ án; bước đầu đánh giá chứng cứ nhằm giúp Tòa án có các quyết định chính xác trong việc giải quyết vụ án; đồng thời còn giúp Tòa án có những kiến nghị kịp thời với cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành và thực hiện các quyết định hành chính liên quan đến công tác quản lý hành chính Nhà nước.

1. Nhiệm vụ của giai đoạn chuẩn bị xét xử

Giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính tập trung thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

– Xác định được nội dung của vụ án, quyền và lợi ích của người khởi kiện, nội dung quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện; xác định quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện có hợp pháp hay không. Từ đó xác định có hay không có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại.

– Thu thập đầy đủ những chứng cứ liên quan đến vụ án theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định đế việc xét xử vụ án hành chính được khách quan và công bằng, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm.

2. Ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử

Giai đoạn chuẩn bị xét xử là giai đoạn tiếp theo ngay sau khi có quyết định thụ lý vụ án, và kết thúc khi hoàn tất các hồ sơ cần thiết cho việc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng, được thể hiện như sau:

– Thu thập đầy đủ chứng cứ của vụ án nhằm làm cơ sở cho việc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án.

– Tạo điều kiện cho Thẩm phán tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ, kỹ lưỡng các tình tiết liên quan của vụ án để nắm được thực chất của vấn đề và đưa ra các quyết định hợp lý.

– Thông qua giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có thể phát hiện những sai sót, khuyết điểm của cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Từ đó, có những kiến nghị nhằm giúp tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động chấp hành và điều hành.

– Giai đoạn này góp phần giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân, trong các tổ chức và cơ quan.

61

3. Căn cứ pháp luật để xem xét quyết định hành chính, hành vi hành chính hợp pháp hay bất hợp pháp

Khi giải quyết vụ án hành chính, căn cứ để xem xét quyết định hành chính, hành vi hành chính đúng hay sai là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất quy định về lĩnh vực đó đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm ra quyết định hành chính hay có hành vi hành chính mà bị khiếu kiện.

Ví dụ: Nghị định của Chính phủ quy định về thu thuế đối với một loại hoạt động nào đó với mức tối đa là 5% tổng giá trị lợi nhuận thu được. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính cũng hướng dẫn mức tối đa là 5% tổng giá trị lợi nhuận thu được. Ủy ban nhân dân tỉnh X căn cứ vào địa phương mình cho rằng phải thu cao hơn nên ra văn bản hướng dẫn việc thu thuế đối với loại hoạt động này ở địa phương mình với mức tối đa là 8% tổng giá trị lợi nhuận. Khi thu thuế, cán bộ có thẩm quyền chỉ căn cứ và văn bản của UBND tỉnh nên ra quyết định thu thuế 7% tổng giá trị lợi nhuận. Quyết định về thu thuế này bị khiếu kiện. Trong trường hợp này, Nghị định của Chính phủ có giá trị pháp lý cao nhất và căn cứ vào Nghị định của Chính phủ, thì quyết định về thu thuế của cán bộ có thẩm quyền là không đúng. Do đó, khi xét xử Tòa án quyết định hủy bỏ quyết định về thu thuế nói trên và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định thu thuế phải sửa lại quyết định của mình; đồng thời Tòa án cần kiến nghị với UBND tỉnh X để UBND tỉnh X tự hủy bỏ văn bản hướng dẫn việc thu thuế trái với văn bản của cơ quan cấp trên như trong thí dụ này. Nếu trong thời gian nhất định mà vẫn chưa hủy bỏ, thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát áp dụng các quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị văn bản nói trên.

IIII– TTHHỜỜII HHẠẠNN CCHHUUẨẨNN BBỊỊ XXÉÉTT XXỬỬ SSƠƠ TTHHẨẨMM VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

Thời hạn chuẩn bị xét xử là khoản thời gian từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án.

Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án.

Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;

b) Tên, địa chỉ Toà án đã thụ lý vụ án;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết;

đ) Danh sách tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;

e) Thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Toà án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);

62

g) Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Toà án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).

Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Toà án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Toà án phải gia hạn, nhưng không quá mười ngày.

Người được thông báo có quyền yêu cầu Toà án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện, văn bản khởi tố và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;

c) Đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Đối với các vụ án phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì thời hạn nói trên không quá ba tháng.

Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn đó cũng không được quá ba mươi ngày.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định.

Cùng với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án.

IIIIII– QQUUYYẾẾTT ÐÐỊỊNNHH TTẠẠMM ÐÐÌÌNNHH CCHHỈỈ VVIIỆỆCC GGIIẢẢII QQUUYYẾẾTT VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Căn cứ ra quyết định

Tòa án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dựa vào một trong các căn cứ sau:

1. Ðương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;

63

2. Ðã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt với lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt các đương sự;

3. Cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động, vụ án hành chính khác có liên quan.

2. Hiệu lực pháp luật của quyết định

Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án chỉ có ý nghĩa tạm ngừng tố tụng. Ðây không phải là quyết định cuối cùng của việc giải quyết vụ án. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn.

Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

IIVV– QQUUYYẾẾTT ÐÐỊỊNNHH ÐÐÌÌNNHH CCHHỈỈ VVIIỆỆCC GGIIẢẢII QQUUYYẾẾTT VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Căn cứ ra quyết định

Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dựa vào một trong các căn cứ sau:

a) Đương sự là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;

b) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố;

c) Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính có thể bị kháng cáo, kháng nghị, trừ trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố.

Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện.

2. Hiệu lực pháp luật của quyết định

Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị, trừ trường hợp người khởi kiện rút đơn kiện; Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố trong trường hợp không có người khởi kiện thì, không có quyền kháng cáo, kháng nghị.

64

VV– QQUUYYẾẾTT ÐÐỊỊNNHH ÐÐƯƯAA VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH RRAA XXÉÉTT XXỬỬ

Nếu đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà không có căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án phải quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử và bắt đầu cho một giai đoạn tố tụng mới – giai đoạn xét xử tại phiên tòa.

Người có thẩm quyền ra quyết định đưa vụ án ra xét xử là Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung sau đây:

1. Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

2. Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín với sự có mặt hay không có mặt các đương sự và những người tham gia tố tụng khác;

3. Tên của các đơn sự, những người tham gia tố tụng khác;

4. Nội dung việc khởi kiện;

5. Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên tòa; họ, tên của Kiểm sát viên.

Bản sao của quyết định đưa vụ án ra xét xử được gởi cho Viện kiểm sát cùng cấp và các đương sự./.

Câu hỏi

1) Căn cứ pháp luật để xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính?

2) Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính?

Tài liệu tham khảo

1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006;

2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006.

65

Chương 8: THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

II– NNHHỮỮNNGG QQUUYY ÐÐỊỊNNHH CCHHUUNNGG

1. Hội đồng xét xử

Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân.

Trường hợp có sự vi phạm quy định về thành phần Hội đồng xét xử nói riêng, và vi phạm quy định về thành phần người tiến hành tố tụng nói chung, thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, trường hợp này bản án hoặc quyết định của Hội đồng xét xử sẽ không có giá trị pháp lý.

2. Các trường hợp Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa

Hội đồng xét xử hoãn phiên toà trong các trường hợp thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay; hoặc cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà sơ thẩm, nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.

Người khởi kiện phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà.

Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì người khởi kiện có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Người bị kiện phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Người bị kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu người khởi kiện và người bị kiện đều đồng ý. Trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

66

Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

a) Người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt;

b) Người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có người đại diện hợp pháp tham gia phiên toà;

c) Người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do chính đáng;

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự phải tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án tiến hành xét xử vụ án; trong trường hợp này, đương sự tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Trong trường hợp người làm chứng vắng mặt, nhưng trước đó đã có lời khai trực tiếp với Toà án hoặc gửi lời khai cho Toà án thì chủ toạ phiên toà công bố lời khai đó. Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử có quyền quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử; trường hợp người làm chứng vắng mặt tại phiên toà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc xét xử thì có thể bị dẫn giải đến phiên toà theo quyết định của Hội đồng xét xử.

Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định. Trường hợp người giám định vắng mặt thì Hội đồng xét xử có quyền quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử.

Người phiên dịch có nghĩa vụ tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án. Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử.

3. Nội quy phiên tòa

Những người tham dự phiên tòa cần tuân thủ nội quy phiên tòa. Nội quy phiên tòa được quy định như sau:

Trước khi phiên tòa chính thức khai mạc, thư ký phiên tòa phổ biến nội quy phiên tòa cho những người tham dự phiên tòa biết;

Mọi người trong phòng xét xử phải có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa;

67

Mọi người trong phòng xét xử phải đứng lên khi Hội đồng xét xử vào phòng xét xử;

Chỉ những người được Tòa án triệu tập mới có quyền phát biểu và chỉ phát biểu khi được chủ tọa phiên tòa cho phép;

Khi Hội đồng xét xử hỏi đến người nào, thì người đó phải đứng lên trả lời, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe yếu được chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi phát biểu;

Người nào vi phạm trật tự phiên tòa, thì tùy mức độ sẽ bị chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xét xử hoặc bị bắt giữ.

4. Biên bản phiên tòa

Trong quá trình xét xử, thư ký phiên tòa phải lập biên bản phiên tòa. Biên bản phiên tòa phải có các nội dung chính sau đây:

– Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

– Vụ án được đưa ra xét xử;

– Họ tên các thành viên Hội đồng xét xử;

– Họ tên thư ký phiên tòa;

– Họ tên luật sư, người giám định, người phiên dịch, kiểm sát viên (nếu có);

– Họ tên, địa chỉ người khởi kiện, người bị kiện;

– Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện;

– Mọi diễn biến diễn ra tại phiên tòa từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên tòa.

Sau khi kết thúc phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại biên bản phiên tòa và cùng thư ký phiên tòa ký vào biên bản. Những người tham gia tố tụng có quyền đọc biên bản phiên tòa, có quyền yêu cầu bổ sung ý kiến của mình vào biên bản phiên tòa.

IIII– PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA SSƠƠ TTHHẨẨMM

1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa

Trước khi phiên tòa khai mạc, thư ký phiên tòa kiểm tra những người được triệu tập xem đã đến đủ chưa, nếu có người vắng mặt thì phải tìm hiểu lý do, nếu đương sự cử người đại diện thì người này phải xuất trình giấy ủy quyền hợp lệ. Khi Hội đồng xét xử vào phòng xét xử, thì mọi người có mặt trong phòng phải đứng lên.

Khi bắt đầu phiên tòa sơ thẩm với sự có mặt của người tham gia tố tụng, Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, kế tiếp kiểm tra sự có mặt và căn cước của những người được triệu tập đến phiên tòa, giải thích cho họ biết

68

quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa. Nếu người được triệu tập mà vắng mặt, thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn hoặc tiếp tục phiên tòa.

Chủ tọa phiên tòa giới thiệu các thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, người giám định, người phiên dịch, người làm chứng và giải thích cho những người tham gia tố tụng biết quyền yêu cầu thay đổi thành phần Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, người giám định, người phiên dịch; nếu có ý kiến yêu cầu thay đổi, thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.

Chủ tọa phiên tòa giải thích cho người giám định, người phiên dịch về quyền, nghĩa vụ của họ. Những người này phải cam đoan làm tròn nghĩa vụ. Chủ tọa phiên tòa giải thích cho người làm chứng về quyền, nghĩa vụ của họ. Người làm chứng phải cam đoan khai đúng sự thật. Nếu người làm chứng có thể bị ảnh hưởng bởi lời khai của người khác, thì Chủ tọa phiên tòa cho cách ly người làm chứng với người đó trước khi lấy lời khai của người làm chứng.

Chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự hoặc người đại diện của đương sự, Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc cung cấp thêm chứng cứ họăc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.

Riêng đối với phiên tòa sơ thẩm được tiến hành không cần sự có mặt của người tham gia tố tụng, thì sau khi nghe Chủ tọa phiên tòa tóm tắt nội dung sự việc, Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến hoặc sau khi công bố ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thảo luận và nghị án.

2. Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa

Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe ý kiến của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, đối chiếu các ý kiến này với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử hỏi trước, sau đó đến Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người tham gia tố tụng có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm.

3. Tranh luận tại phiên tòa

Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự hoặc người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tranh luận; Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Nội dung của thủ tục tranh luận dài hay ngắn là tùy thuộc vào tình hình của mỗi vụ án cụ thể. Chủ tọa phiên tòa cần hướng dẫn cho các đương sự trình bày

69

những lý lẽ để bảo vệ quyền lợi của họ, mà không lặp lại hay nói dài dòng những điều đã trình bày.

Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mình không đồng ý.

Qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại.

4. Nghị án

Các quyết định của Hội đồng xét xử phải được các thành viên thảo luận và quyết định theo đa số. Khi nghị án phải lập biên bản ghi các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử.

5. Tuyên án

Khi tuyên án, chủ tọa phiên tòa phải đứng nghiêm đọc nguyên văn bản án từ đầu đến cuối. Nếu tòa án xử kín một phần hoặc toàn bộ vụ án, thì tùy trường hợp chủ tọa phiên tòa có thể đọc toàn bộ bản án hoặc chỉ tóm tắt nội dung sự việc và nhận định của Hội đồng xét xử, nhưng phần quyết định của bản án thì phải đọc công khai.

Sau khi đã tuyên án, chủ tọa phiên tòa nên giải thích cho các đương sự về quyền chống án của họ.

IIIIII– BBẢẢNN ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Các nguyên tắc phải tuân thủ khi ra bản án

Bản án hành chính là toàn bộ kết quả giải quyết vụ án hành chính nhằm xác định tính đúng sai hoặc là của người khởi kiện, hoặc là quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện. Chính vì vậy, bản án hành chính phải chuẩn xác, hợp lý, có tính thuyết phục, như thế mới bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Cũng như bản án của các loại án khác (hình sự, dân sự, kinh tế, lao động), bản án hành chính được Tòa án ban hành nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thếï, khi bản án có hiệu lực pháp luật thì các đương sự phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Khi ra bản án, Hội đồng xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc của việc ra bản án, bao gồm:

a) Bản án phải chính xác và có sức thuyết phục

Bản án phải chính xác có nghĩa là, các quyết định trong bản án phải phù hợp với thực tế khách quan, đúng với pháp luật.

70

Bản án phải có sức thuyết phục có nghĩa là, trong bản án phải phân tích đầy đủ, toàn diện về vụ án hành chính. Trong bản án phải nêu được chứng cứ, tài liệu chứng minh, tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện. Nội dung của bản án phải chặt chẽ, phải nêu từng vấn đề và giải quyết chúng phù hợp với quy định của pháp luật.

b) Bản án phải có căn cứ

Khi ra các quyết định, trong bản án phải nêu những căn cứ mà dựa vào đó Tòa án ra các quyết định. Những căn cứ này phải dựa vào chứng cứ đã thu thập được và đã được kiểm tra tại phiên tòa phù hợp với trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hành chính.

c) Bản án phải áp dụng đúng pháp luật

Bản án phải tuân thủ pháp luật về cả hai phương diện: nội dung và hình thức.

– Về mặt nội dung: bản án phải nêu được những vấn đề chính liên quan đến vụ án xét xử, có viện dẫn các văn bản pháo luật có liên quan. Những quyết định trong bản án đều phù hợp pháp luật hiện hành.

– Về hình thức: bản án phải thể hiện đúng hình thức, phải có đầy đủ các dữ liệu cần thiết của một bản án.

d) Bản án phải xác định rõ đối tượng của việc xét xử

Trong bản án phải ghi rõ các đối tượng liên quan đến việc xét xử như: quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu kiện, thành phần đương sự, những thiệt hại do quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính gây ra đối với người khởi kiện, những yêu cầu của người khởi kiện, sự giải trình của người bị kiện cho quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị kiện, sự không phù hợp pháp luật trong yêu cầu của người khởi kiện hoặc trong quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị kiện.

2. Nội dung của bản án hành chính

Bản án phải có các nội dung chính sau đây:

1. Ngày, tháng, năm, địa điểm tiến hành phiên tòa;

2. Họ, tên thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa;

3. Tên, địa chỉ của các đương sự, người đại diện của họ;

4. Yêu cầu của các đương sự;

5. Những tình tiết đã được chứng minh, những chứng cứ, căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án;

6. Các quyết định của Tòa án:

Khi xét xử vụ án hành chính tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà Toà án có thể có một hoặc một số quyết định sau đây:

71

a) Bác yêu cầu của người khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật;

b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện tuyên huỷ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trách nhiệm công vụ theo quy định của pháp luật;

c) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện tuyên bố một số hoặc toàn bộ các hành vi hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật;

d) Buộc cơ quan hành chính nhà nước bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật gây ra;

đ) Chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện tuyên huỷ quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện trách nhiệm công vụ theo quy định của pháp luật; buộc bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân do quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật gây ra.

7. Án phí, người phải chịu án phí;

8. Quyền kháng cáo của đương sự.

IIVV– NNHHỮỮNNGG TTHHỦỦ TTỤỤCC TTIIẾẾNN HHÀÀNNHH SSAAUU PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA

1. Sửa chữa biên bản phiên tòa

Theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính nước ta thì, trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, được xem biên bản phiên tòa, có quyền yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản.

Chủ tòa phiên tòa, Thư ký phiên tòa và người có yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản ký tên xác nhận những điều sửa chữa, bổ sung.

Nếu yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản phiên tòa không được chấp nhận, thì người yêu cầu có quyền ghi ý kiến của mình bằng văn bản để đưa vào hồ sơ vụ án.

2. Cấp trích lục, bản sao bản án hoặc quyết định của Tòa án

Ngay sau khi phiên tòa kết thúc, các đương sự được Tòa án cấp trích lục bản án hoặc quyết định về vụ án. Chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định, Tòa án phải cấp cho đương sự bản sao bản án hoặc quyết định theo yêu cầu của họ, đồng thời gởi cho Viện kiểm sát cùng cấp một bản./.

72

Câu hỏi

1) Các trường hợp Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa?

2) Nội quy và biên bản phiên tòa?

3) Nội dung của bản án hành chính?

4) Các thủ tục tiến hành sau phiên tòa sơ thẩm?

Tài liệu tham khảo

1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006;

2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006.

73

Chương 9: THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

II– KKHHÁÁII NNIIỆỆMM,, MMỤỤCC ÐÐÍÍCCHH PPHHÚÚCC TTHHẨẨMM VVỤỤ ÁÁNN HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Khái niệm phúc thẩm vụ án hành chính

Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay, mà chỉ có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày tuyên án trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị. Nếu trong 10 ngày kể từ ngày Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án mà có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định đã tuyên, thì Tòa án phải tiến hành thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính.

Như vậy, phúc thẩm vụ án hành chính là việc Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án hành chính xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, kháng nghị, theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

2. Mục đích phúc thẩm vụ án hành chính

Quá trình tố tụng hành chính quy định giai đoạn xét xử phúc thẩm nhằm:

– Ðảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân;

– Sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khuyết điểm mà Tòa án cấp sơ thẩm đã vướng phải trong quá trình xét xử;

– Tạo điều kiện cho Tòa án cấp trên kiểm tra chất lượng xét xử của Tòa án cấp dưới, thông qua đó hướng dẫn hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới cho phù hợp với pháp luật và thực tế khách quan.

IIII–KKHHÁÁNNGG CCÁÁOO,, KKHHÁÁNNGG NNGGHHỊỊ TTHHEEOO TTHHỦỦ TTỤỤCC PPHHÚÚCC TTHHẨẨMM

1. Chủ thể kháng cáo, kháng nghị

Theo quy định tại Ðiều 55 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, thì chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị gồm:

– Chủ thể có quyền kháng cáo là: đương sự hoặc người đại diện của đương sự.

– Chủ thể có quyền kháng nghị là: Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp của cấp Tòa án đang xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.

Chủ thể kháng cáo, kháng nghị có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án trên một cấp xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp người khởi kiện

74

rút đơn kiện; Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố trong trường hợp không có người khởi kiện.

2. Khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị

Khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm gồm:

– Các bản án hành chính sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

– Các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

Người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo; Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản. Trong đơn kháng cáo, kháng nghị phải nêu rõ:

– Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị;

– Lý do kháng cáo, kháng nghị;

– Yêu cầu của người kháng cáo, kháng nghị.

3. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Thời hạn kháng cáo là mười ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định; nếu đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn này tính từ ngày bản sao bản án, quyết định được giao cho họ, thân nhân của họ hoặc được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, trị trấn nơi họ cư trú hoặc nơi có trụ sở, nếu đương sự là cơ quan, tổ chức.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười ngày, của Viện kiểm sát là cấp trên là hai mươi ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định.

Nếu Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa, thì thời hạn kháng nghị được tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định của Tòa án.

Pháp luật tố tụng hành chính nước ta cũng quy định trong trường hợp do trở ngại khách quan, mà không thể kháng cáo, kháng nghị được trong thời hạn quy định như trình bày ở trên, thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Hậu quả pháp lý của kháng cáo, kháng nghị

Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Quá thời hạn pháp luật quy định mà không có kháng cáo, kháng nghị thì mặc nhiên bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

75

Kháng cáo, kháng nghị hợp lệ có hậu quả làm cho bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành. Nếu kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành; nếu chỉ kháng cáo, kháng nghị một phần bản án, quyết định thì chỉ phần bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành.

5. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị

Trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết.

Trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.

Toà án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị.

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm. Toà án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát và các đương sự biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị.

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà.

IIIIII– PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA PPHHÚÚCC TTHHẨẨMM HHÀÀNNHH CCHHÍÍNNHH

1. Hội đồng xét xử phúc thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.

Pháp luật quy định thành phần Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm như vậy xuất phát từ yêu cầu: mục đích của tòa án cấp phúc thẩm là xem xét tòa án cấp sơ thẩm có áp dụng đúng pháp luật trong quá trình xét xử hay không; mặc khác bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi ban hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm phải gồm toàn bộ là những thẩm phán (không có Hội thẩm nhân dân), vì thẩm phán là người được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệm xét xử, như thế mới đảm bảo được tính đúng đắn và chính xác toàn diện của bản án, quyết định phúc thẩm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

76

2. Thời hạn xét xử phúc thẩm

Kháng cáo, kháng nghị được gởi đến Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị hoặc kể từ ngày người kháng cáo xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (nếu người kháng cáo phải nộp tiền này), Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi kháng cáo, kháng nghị kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm phải ra quyết định giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị.

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm gởi đến, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa phúc thẩm (trừ các trường hợp Hội đông xử không phải mở phiên tòa, nhưng phải đảm bảo đúng thời hạn này); trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn này cũng không được quá 90 ngày.

3. Các trường hợp Hội đồng xét xử không phải mở phiên tòa

Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập các đương sự trong các trường hợp sau đây:

– Xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn;

– Xét kháng cáo, kháng nghị về phần án phí;

– Xét kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

4. Những người tham dự phiên tòa phúc thẩm

Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm; nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.

Toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án.

Đương sự kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập tham gia phiên toà; nếu có người vắng mặt thì Toà án vẫn có thể tiến hành xét xử.

Toà án chỉ triệu tập người giám định, người phiên dịch, người làm chứng khi có yêu cầu của đương sự và khi xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị; nếu có người vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp mà Toà án quyết định tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên toà.

Đối với các vụ án khi xét xử sơ thẩm không cần sự có mặt của người tham gia tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không có yêu cầu tham gia phiên toà phúc thẩm thì Toà án tiến hành phiên toà phúc thẩm không cần sự có mặt của họ.

77

5. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm

Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo các thủ tục như phiên tòa sơ thẩm. Trước khi xem xét kháng cáo, kháng nghị, một thành viên Hội đồng xét xử trình bày nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.

6. Quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm

Tòa án cấp phúc thẩm có quyền:

1. Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm;

2. Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm;

Bản án, quyết định sơ thẩm bị sửa đổi một phần hoặc toàn bộ khi:

– Nội dung trái pháp luật, không phù hợp với hồ sơ vụ án;

– Có chứng cứ mới cho thấy bản án, quyết định sơ thẩm trái pháp luật, không đúng với sự thật khách quan của vụ án.

3. Hủy bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc việc xác minh, thu nhập chứng cứ không đầy đủ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được;

4. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Ðiều 40 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

5. Hủy bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Ðiều 41 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

6. Ðình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.

Trong trường hợp này, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, đối với trường hợp có nhiều người kháng cáo, thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm, nhưng không xem xét nội dung kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt nói trên./.

Câu hỏi

1) Khái niệm và mục đích phúc thẩm vụ án hành chính?

2) Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm?

3) Quyền hạn của tòa án cấp phúc thẩm?

78

Tài liệu tham khảo

1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006;

2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006.

79

Chương 10: THỦ TỤC XÉT LẠI CÁC BẢN ÁN VÀ QUYẾT ÐỊNH ÐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, có những sai lầm, thiếu sót có thể phát hiện ngay khi bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, cũng có những sai lầm, thiếu sót chỉ phát hiện khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, đối với những bản án, quyết định này cần được khắc phục bằng thủ tục nhất định, đó là thủ tục: giám đốc thẩm và tái thẩm.

Việc quy định thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính nhằm các mục đích sau:

– Nhằm đảm bảo cho bản án hoặc quyết định của Tòa hành chính đã tuyên luôn đúng, có căn cứ và hợp pháp, phù hợp với thực tế của vụ án hành chính;

– Việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm giúp cho Tòa án cấp trên thấy được những thiếu sót, sai lầm của Tòa án cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, để từ đó có hướng dẫn phù hợp giúp Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn quốc.

II– TTHHỦỦ TTỤỤCC GGIIÁÁMM ÐÐỐỐCC TTHHẨẨMM

1. Khái niệm giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là việc Tòa án cấp trên có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị của những người có quyền kháng nghị khi phát hiện có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Chủ thể kháng nghị

Chủ thể của quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gồm:

1. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

2. Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện.

80

3. Căn cứ để kháng nghị, thời hạn kháng nghị

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây:

1. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

2. Phần quyết định trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

IIII– TTHHỦỦ TTỤỤCC TTÁÁII TTHHẨẨMM

1. Khái niệm tái thẩm

Tái thẩm là việc Tòa án cấp trên có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị của những người có quyền kháng nghị khi mới phát hiện tình tiết quan trọng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.

2. Chủ thể kháng nghị

1. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

2. Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện.

Như vậy, theo quy định mới hiện nay thì so với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, phạm vi chủ thể của quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là giống nhau.

3. Căn cứ để kháng nghị, thời hạn kháng nghị:

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây:

1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được khi giải quyết vụ án;

81

2. Ðã xác minh được lời khai của người làm chứng, kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng;

3. Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án;

4. Bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước mà Tòa án dựa vào để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Lưu ý:

– Kháng nghị phải được gửi cho Toà án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị, Toà án sẽ xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị. Trong trường hợp Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Toà án cấp tỉnh kháng nghị thì Toà án sẽ xét xử giám đốc thẩm phải gửi kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị và hồ sơ vụ án.

– Người đã kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị.

– Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà, người kháng nghị có quyền rút kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản.

– Việc rút kháng nghị tại phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà.

– Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trong trường hợp người kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị.

– Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án có quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định không quá hai tháng để xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

– Người kháng nghị có quyền hoãn hoặc tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

82

IIIIII– PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA GGIIÁÁMM ÐÐỐỐCC TTHHẨẨMM,, TTÁÁII TTHHẨẨMM

1. Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm

Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ có quyền xem xét phần nội dung của vụ án liên quan đến quyết định bị kháng nghị.

2. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng nghị.

Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh bị kháng nghị.

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà phúc thẩm, Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị.

Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của các cấp Toà án khác nhau nêu trên thì Toà án có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm hoặc tái thẩm toàn bộ vụ án.

3. Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm

Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Toà án phải mở phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không phải triệu tập đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị, trừ trường hợp Toà án thấy cần phải nghe ý kiến của họ trước khi quyết định.

Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Tại phiên toà, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trình bày nội dung vụ án, nội dung kháng nghị. Trong trường hợp Toà án có triệu tập những người tham gia tố tụng thì người được triệu tập trình bày ý kiến của mình về quyết định kháng nghị. Đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị.

Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án.

Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh, của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban Thẩm phán, của Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.

83

Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết theo trình tự tán thành, không tán thành với kháng nghị và ý kiến khác; nếu không có trường hợp nào được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh, của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà, Uỷ ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán phải tiến hành xét xử lại với sự tham gia của toàn thể các thành viên.

4. Quyền hạn của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền:

1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

2. Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa;

3. Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại;

4. Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Điều 41 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính./.

Câu hỏi

1) So sánh giữa hai thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm?

2) Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm?

3) Quyền hạn của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm?

Tài liệu tham khảo

1) Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006;

2) Nghị quyết số 04/2006/NQ-HÐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006;

3) Tạp chí Dân chủ và pháp luật (của Bộ Tư pháp) tháng 12/2001 – Số chuyên đề: Toà hành chính và việc giải quyết khiếu kiện của tổ chức, công dân.

84

  1. Để lại bình luận

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: